- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Phần Thị C yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh Lù Văn S"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Phần Thị C và Anh Lù Văn S. Quan hệ hôn nhân của chị Phần Thị C và Anh Lù Văn S được chấm dứt kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN S TỈNH LÀO CAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| _________________________________ Bản án số: 03/2023/HNGĐ-ST Ngày: 07 - 3 - 2023 V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN S, TỈNH LÀO CAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Sầm Thị Tươi.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phạm Ức Trai
2. Ông Giàng A Sủ.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trịnh Ngọc Long - Thư ký Toà án nhân dân huyện S, tỉnh Lào Cai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện S, tỉnh Lào Cai tham gia phiên toà: Bà Dương Thị Hồng Luận - Kiểm sát viên.
Ngày 07/3/2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện S, tỉnh Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 53/2022/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 10 năm 2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 02 năm 2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Phần Thị C, năm sinh 1996.
Địa chỉ nơi cư trú: Thôn L, xã N, huyện S, tỉnh Lào Cai - Có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.
2. Bị đơn: Anh Lù Văn S, năm sinh 1992.
Địa chỉ nơi cư trú: Thôn L, xã N, huyện S, tỉnh Lào Cai - Vắng mặt lần thứ hai không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Tại đơn khởi kiện đề ngày 20 tháng 10 năm 2022 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Phần Thị C trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Phần Thị C và Anh Lù Văn S tự nguyện về chung sống với nhau như vợ chồng từ tháng 5/2013, không đăng ký kết hôn, có tổ chức đám cưới theo phong tục tập quán địa phương. Đến ngày 29/7/2014 anh chị mới đăng ký kết hôn với nhau tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện S, tỉnh Lào Cai. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống đến tháng 8/2018 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân, do con nhỏ nên chị C phải ở nhà chăm sóc các con còn anh S thì sang bên Trung Quốc làm thuê từ tháng 02/2018 đến tháng 8/2018 thì anh S về nhà; khi về nhà anh S cho rằng chị C không biết kiếm tiền mà chỉ biết tiêu tiền do anh S kiếm được nên chửi chị C và thỉnh thoảng đánh, đuổi chị C ra khỏi nhà. Do mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng nên từ tháng 12/2018 chị C đã về nhà bố mẹ đẻ của chị C ở cùng thôn sinh sống đến nay; từ khi chị C về nhà bố mẹ đẻ đến nay, anh S cũng không đến đón chị C về lần nào. Thực tế từ tháng 12/2018 đến nay anh chị đã sống ly thân, không quan tâm gì đến nhau nữa. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị C yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với Anh Lù Văn S để đảm bảo cuộc sống riêng của cả hai người.
- Về con chung: Quá trình chung sống chị Phần Thị C và Anh Lù Văn S có hai người con chung là cháu Lù Văn Q, sinh ngày 26/6/2014 và cháu Lù Thị H, sinh ngày 27/01/2016. Từ khi anh chị sống ly thân đến nay thì cả hai cháu ở cùng với anh S. Nay chị C yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh S được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Quyết và cháu Nhi cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Chị C không yêu cầu Tòa án giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con chung.
2. Đối với bị đơn Anh Lù Văn S: Tại biên bản lấy lời khai ngày 16 tháng 01 năm 2023 và trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn Anh Lù Văn S trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh Lù Văn S và chị Phần Thị C tự nguyện về chung sống với nhau như vợ chồng từ tháng 5/2013, không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật; được hai bên gia đình tổ chức đám cưới theo phong tục tập quán địa phương. Ngày 29/7/2014 anh chị mới đăng ký kết hôn với nhau tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện S, tỉnh Lào Cai. Anh chị chung sống hạnh phúc đến tháng 8/2018 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm trong cuộc sống và làm ăn kinh tế; từ đó vợ chồng không yêu thương nhau, sống không hạnh phúc. Do mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng nên tháng 12/2018 anh chị đã đi làm thuê mỗi người ở một nơi; chỉ thỉnh thoảng quan tâm đến nhau; khoảng 1 năm nay vợ chồng không quan tâm gì đến nhau nữa. Nay chị C yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh S thì anh S không đồng ý ly hôn vì hai con chung còn nhỏ nên anh S muốn chị C tiếp tục về chung sống với anh S để cùng anh S nuôi con.
- Về con chung: Quá trình chung sống anh S và chị C có hai người con chung là cháu Lù Văn Q, sinh ngày 26/6/2014 và cháu Lù Thị H, sinh ngày 27/01/2016. Từ khi anh chị sống ly thân đến nay thì cả hai cháu ở cùng với anh S. Nếu chị C kiên quyết ly hôn với anh S thì anh S yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Quyết và cháu Nhi cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Anh S không yêu cầu Tòa án giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con chung.
3. Tại Biên bản ghi ý kiến của con chưa thành niên là cháu Lù Văn Q trình bày: Nay bố mẹ ly hôn thì cháu Quyết có nguyện vọng được ở với bố để bố trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu.
Đối với vụ án này, Tòa án đã tiến hành hòa giải theo quy định của pháp luật nhưng các đương sự không thống nhất được với nhau về quan hệ hôn nhân và nuôi dưỡng con chung khi ly hôn.
4. Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm:
4.1. Việc tuân theo pháp luật tố tụng:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán: Thẩm phán đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về thẩm quyền thụ lý đúng quy định tại các điều 28, 35, 39; xác định tư cách tham gia tố tụng đúng quy định tại Điều 68; xác minh, thu thập chứng cứ, giao nhận, tiếp cận, công khai chứng cứ đúng quy định tại các từ điều Điều 93 đến Điều 97. Trình tự thụ lý, việc giao nhận thông báo thụ lý cho Viện kiểm sát và cho đương sự đúng quy định tại Điều 195, 196. Thời hạn chuẩn bị xét xử thực hiện đúng quy định tại Điều 203, 233.
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa: Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng, đầy đủ các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.
- Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và phiên tòa hôm nay, nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70, 71, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
4.2. Ý kiến về việc giải quyết vụ việc: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 56; khoản 1,2 Điều 81; khoản 1,3 Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1,3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án xét xử theo hướng:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xử cho chị Phần Thị C được ly hôn với Anh Lù Văn S.
- Về con chung: Giao các cháu Lù Văn Q, Lù Thị Nhi cho Anh Lù Văn S trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Chị C không phải cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Không đề cập giải quyết.
- Về án phí và quyền kháng cáo: Tuyên án phí và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
4.3. Yêu cầu, kiến nghị khắc phục vi phạm: Không.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phân tích, đánh giá, nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Chị Phần Thị C yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” với Anh Lù Văn S có địa chỉ nơi cư trú: Thôn L, xã N, huyện S, tỉnh Lào Cai. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện S. Nguyên đơn có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt hợp lệ, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do, vì vậy Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1,3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị C và anh S là hợp pháp. Anh chị tự nguyện về chung sống với nhau như vợ chồng từ tháng 5/2013, không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nhưng đến ngày 29/7/2014 anh chị đã đăng ký kết hôn với nhau tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện S, tỉnh Lào Cai. Anh chị chung sống hạnh phúc đến tháng 8/2018 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống tình cảm và làm ăn kinh tế do chị C phải ở nhà chăm sóc các con nhỏ còn anh S đi Trung Quốc làm thuê từ tháng 02/2018 đến tháng 08/2018 thì anh S về nhà; khi về nhà anh S cho rằng chị C không biết kiếm tiền mà chỉ biết tiêu tiền do anh S kiếm được nên dẫn đến vợ chồng cãi chửi nhau, thỉnh thoảng anh S đánh và đuổi chị C ra khỏi nhà. Do mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng nên anh chị đã sống ly thân từ tháng 12/2018 đến nay, không quan tâm gì đến nhau nữa. Mâu thuẫn vợ chồng anh chị đã được chị C, anh S trình bày và chính quyền địa phương xác nhận (Bút lục 40). Như vậy tình trạng hôn nhân giữa chị C và anh S đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được.Vì vậy việc chị C yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh S là có căn cứ, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên cần được chấp nhận.
Về nuôi con khi ly hôn: Quá trình chung sống chị Phần Thị C và Anh Lù Văn S có hai người con chung là cháu Lù Văn Q, sinh ngày 26/6/2014 và cháu Lù Thị H, sinh ngày 27/01/2016. Từ khi anh chị sống ly thân tháng 12/2018 đến nay thì cả hai cháu ở cùng với anh S. Thu nhập của chị C một tháng trung bình được 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) nhưng chị đang sống nhờ nhà bố mẹ đẻ, không có tài sản gì khác ngoài thu nhập hàng tháng; thu nhập của anh S một tháng trung bình được 9.000.000 đồng (Chín triệu đồng); anh S có nhà cửa để ở, có đất đai để canh tác; các cháu thì đã ở ổn định, lâu dài với anh S và cháu Quyết có nguyện vọng được ở với bố; tại địa phương mức nuôi dưỡng cháu Quyết và cháu Nhi một tháng là 1.200.000 đồng ( Một triệu hai trăm nghìn đồng) /1 cháu; các cháu đi học được nhà nước hỗ trợ. Về thu nhập, điều kiện nuôi con đã được chị C; anh S xác nhận và cũng đã được địa phương xác nhận (Bút lục 38, 40). Nay chị C và anh S đều yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh S được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Quyết và cháu Nhi cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Chị C, anh S đều không yêu cầu Tòa án giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con chung phù hợp với khoản 1,2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình, nên cần được chấp nhận. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở; người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con theo quy định tại khoản 1,3 Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Do chị C và anh S không yêu cầu Tòa án giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí sơ thẩm: Chị Phần Thị C phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 56; khoản 1,2 Điều 81; khoản 1,3 Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1,3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Phần Thị C và Anh Lù Văn S. Quan hệ hôn nhân của chị Phần Thị C và Anh Lù Văn S được chấm dứt kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật.
2. Về nuôi con khi ly hôn: Giao con chung cháu Lù Văn Q, sinh ngày 26/6/2014 và cháu Lù Thị H, sinh ngày 27/01/2016 cho Anh Lù Văn S được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi cháu Lù Văn Q và cháu Lù Thị H đủ 18 tuổi. Chị Phần Thị C không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
3. Về án phí sơ thẩm: Chị Phần Thị C phải chịu: 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0006945 ngày 21/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện S, tỉnh Lào Cai. Chị Phần Thị C đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo đối với bản án: Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
5. Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Đương sự; - TAND tỉnh Lào Cai; - VKSND huyện S (2); - CCTHADS huyện S; - UBND xã N, huyện S, tỉnh Lào Cai; - Lưu: HS, THS (3). THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Phạm Ức Trai Giàng A Sủ Giải quyết yêu cầu cấp dưỡng ko được dưới ½ tháng lương tối thiểu Xem lại có đƣa đoạn này vào bản án không phải cấp dưỡng nuôi con chung. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Sầm Thị Tƣơi THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Sầm Thị Tƣơi [5] Về quan hệ tài sản: Ngày 27/3/2017, chị Dúa đã làm đơn đề nghị Toà án cho chị Dúa được rút một phần đơn khởi kiện về quan hệ tài sản, việc rút một phần đơn khởi kiện về quan hệ tài sản của chị Dúa là hoàn toàn tự nguyện và Tòa án đã đình chỉ giải quyết đối với phần yêu cầu khởi kiện về quan hệ tài sản của chị Dúa đã rút trong vụ án hôn nhân gia đình. Nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết về quan hệ tài sản của chị Dúa và anh Dìn trong vụ án này - Nếu xử giao con tuyên: Giao con chung cháu Sùng Văn Minh sinh ngày 14/7/2010 cho anh Sùng Seo Xênh được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi cháu Minh đủ 18 tuổi. Chị Giàng Thị Mỷ không |