vanban.org

Bản án 03/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Nguyễn Thị Gia L được ly hôn với ông Nguyễn Văn H. Về con chung: Giao con chung là Nguyễn Đại Gia H – sinh ngày: 05/01/2013, Nguyễn Đại Gia L – sinh ngày: 16/7/2014 và Nguyễn Thị Mẫn Nh – sinh ngày: 05/5/2018 cho bà Nguyễn Thị Gia L trực tiếp nuôi dưỡng khi con chưa thành… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn L- H"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MANG YANG
TỈNH GIA LAI
——————————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 03/3/2023
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG YANG, TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Nam Trung

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Định và ông Nguyễn Ngọc Sơn

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Minh H

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Đình Lộc – Kiểm sát viên

Ngày 03 tháng 3 năm 2023 tại Tòa án nhân dân huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 59/2022/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 5 năm 2022 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 01 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Gia L – sinh năm: 1989

Địa chỉ: Làng H’rak, xã Đak Djrăng, huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai. (Có mặt)

- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn H – sinh năm: 1984

Địa chỉ: Làng H’rak, xã Đak Djrăng, huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung đơn khởi kiện và lời khai của nguyên đơn, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bà Nguyễn Thị Gia L và ông Nguyễn Văn H tự nguyện chung sống tiến tới hôn nhân với nhau. Ông bà có đăng ký kết hôn tại UBND xã K’Dang, huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai vào ngày 07/6/2012. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, nhưng đến năm 2016 vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn do ông H nợ nần, cờ bạc và đi làm xa ít khi về nhà. Cả hai hiện đang sống ly thân, không còn tình cảm. Nhận thấy hôn nhân không hạnh phúc và không thể kéo dài thêm nên bà L đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Văn H.

Về con chung: Ông bà có 03 con chung tên Nguyễn Đại Gia Huy – sinh ngày: 05/01/2013, Nguyễn Đại Gia Luân – sinh ngày: 16/7/2014 và Nguyễn Thị Mẫn Nhi – sinh ngày: 05/5/2018. Bà đề nghị sau khi ly hôn được trực tiếp nuôi các con, không yêu cầu ông H cấp dưỡng.

Về tài sản chung: Bà L không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Bà L xác định vợ chồng không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Đối với bị đơn ông Nguyễn Văn H đã được Tòa án thông báo về việc thụ lý vụ án nhưng không có văn bản trình bày ý kiến. Ông H đã được triệu tập đến Tòa án hòa giải đoàn tụ với bà L vào ngày 20/7/2022, ngày 12/10/2022 cũng như tại phiên tòa ngày 10/02/2023 và phiên tòa hôm nay, ông H đều vắng mặt không có lý do.

* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý đến nay, Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ được pháp luật quy định. Nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Bị đơn đã được tống đạt hợp lệ các thông báo, văn bản Tòa án nhưng không có mặt. Tại phiên tòa, Tòa án đã xét xử vắng mặt bị đơn đúng theo quy định. Về quan hệ hôn nhân đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà Nguyễn Thị Gia L được ly hôn với ông Nguyễn Văn H. Về con chung: Đề nghị Hội đồng xét xử giao các con cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng. Về tài sản chung, nợ chung: không ai có yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập. Về án phí: đề nghị nguyên đơn pH chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Bị đơn ông Nguyễn Văn H đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Mang Yang xét xử vắng mặt bị đơn.

Về quan hệ hôn nhân và thẩm quyền giải quyết: Bà Nguyễn Thị Gia L và ông Nguyễn Văn H kết hôn với nhau vào năm 2012 có đăng ký theo quy định pháp luật. Điều này phù hợp với Giấy chứng nhận kết hôn số 51, quyển số 01/2012 do UBND xã K’Dang, huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai cấp ngày 07/6/2012 mà nguyên đơn đã giao nộp. Vì vậy quan hệ hôn nhân giữa ông bà là hợp pháp. Ông Nguyễn Văn H cư trú tại làng H’Rak, xã Đak Djrăng, huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai. Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xác định đây là quan hệ tranh chấp về ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai.

Về mâu thuẫn gia đình: Theo trình bày của đương sự và qua quá trình xác minh tại địa phương, nhận thấy trong quá trình chung sống, ông bà đã xảy ra mâu thuẫn từ năm 2016 cho đến nay. Hiện vợ chồng đang sống ly thân, không còn sự quan tấm, chăm sóc và chia sẻ đã nhiều năm. Tại phiên tòa bà L vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn, còn ông H không có ý kiến trình bày, không có thiện chí muốn hòa giải và đoàn tụ xây dựng gia đình mặc dù đã được Tòa án thông báo, triệu tập. Xét thấy cả hai đã không còn sự tôn trọng, gắn bó, mâu thuẫn đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt nên Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà Nguyễn Thị Gia L được ly hôn với ông Nguyễn Văn H theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Ông bà có 03 con chung tên là Nguyễn Đại Gia H – sinh ngày: 05/01/2013, Nguyễn Đại Gia L – sinh ngày: 16/7/2014 và Nguyễn Thị Mẫn Nh – sinh ngày: 05/5/2018. Nguyên đơn yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng các con sau khi ly hôn. Nhận thấy nguyện vọng của các con muốn ở với mẹ. Đồng thời ông H thường xuyên đi làm xa nhà và ông cũng không có ý kiến gì về việc giành quyền nuôi con. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà L, giao các con là Nguyễn Đại Gia H, Nguyễn Đại Gia L, Nguyễn Thị Mẫn Nh cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc.

Về cấp dưỡng nuôi con: Bà L không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.

Về tài sản chung: Bà L không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

Về nợ chung: Bà L xác định vợ chồng bà không có nợ chung nên không xem xét.

Về án phí: Bà L pH chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 266, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Nguyễn Thị Gia L được ly hôn với ông Nguyễn Văn H.

2. Về con chung: Giao con chung là Nguyễn Đại Gia H – sinh ngày: 05/01/2013, Nguyễn Đại Gia L – sinh ngày: 16/7/2014 và Nguyễn Thị Mẫn Nh – sinh ngày: 05/5/2018 cho bà Nguyễn Thị Gia L trực tiếp nuôi dưỡng khi con chưa thành niên hoặc đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn được áp dụng theo quy định tại các Điều 81, 82, 83 và 84 của Luật hôn nhân và gia đình.

3. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Gia L pH chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng phí, lệ phí Tòa án số 0010637 ngày 16/5/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai. Bà L đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

4. Về thời hạn kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (03/3/2023), đương sự có quyền làm đơn kháng cáo bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người pH thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a ,7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ