vanban.org

Bản án 03/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị H được ly hôn anh Lê Thanh Q.

Về nuôi con chung: Giao cháu Lê Thanh Minh T, sinh ngày 19/3/2012 và cháu Lê Thanh Minh Đ, sinh ngày 19/3/2012 cho chị Lê Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; anh Lê Thanh Q không phải cấp dưỡng nuôi con. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai đượ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ Lê Thị H- Lê Thanh Q ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị H được ly hôn anh Lê Thanh Q.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HẢI LĂNG
TỈNH QUẢNG TRỊ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2023/HNGĐ - ST
Ngày 10/02/2023
“V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI LĂNG, TỈNH QUẢNG TRỊ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Hoan

Các Hội thẩm nhân dân:

- Bà Phạm Thị Tuyết

- Bà Lê Thị Liền

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đăng Chấn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hải Lăng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Lăng tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thùy Dương-Kiểm sát viên

Ngày 10 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hải Lăng xét xử công khai vụ án thụ lý số 64/2022/TLST - HNGĐ ngày 03 tháng 10 năm 2022 về việc "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2022/QĐXXST- HNGĐ ngày 19 tháng 12 năm 2022 và Quyết đinh hoãn phiên tòa số 03/2023/QĐXXST- HNGĐ ngày 12 tháng 01 năm 2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Lê Thị H, sinh năm 1983; địa chỉ: Thôn H, xã Ph, huyện PhĐ, tỉnh Thừa Thiên Huế, vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Bị đơn: Anh Lê Thanh Q, sinh năm 1980; địa chỉ: Thôn T, xã H Ch, huyện H L, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 26/9/2022 và bản tự khai ngày 15/11/2022 của nguyên đơn chị Lê Thị H trình bày: Chị và anh Lê Thanh Q kết hôn vào năm 2011 tại UBND xã H, huyện HL, tỉnh Quảng Trị. Sau khi kết hôn sống hạnh phúc, nhưng từ tháng 8/2019 vợ chồng thường xuyên xãy ra mâu thuẩn, do tính tình không hòa hợp, hai bên sống ly thân từ tháng 4 năm 2020 cho đến nay, trong thời gian sống ly thân hai bên không quan tâm liên lạc gì với nhau, tình cảm vợ chồng đến nay không còn, nên chị yêu cầu giải quyết ly hôn anh Lê Thanh Q.

Về con chung: Có 02 con là cháu Lê Thanh Minh T, sinh ngày 19/3/2012 và cháu Lê Thanh Minh Đ, sinh ngày 19/3/2012, chị có nguyện vọng trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng 02 cháu và không yêu cầu anh Q phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành xác minh, tống đạt các văn bản tố tụng, tiến hành phiên hòa giải nhưng anh Lê Thanh Q vắng mặt tại các phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Vì vậy, không tiến hành phiên hòa giải được.

Tại biên bản xác minh ngày 04/11/2022, Hội Liên hiệp phụ nữ xã H, huyện H L, tỉnh Quảng Trị cung cấp thông tin: Anh Lê Thanh Q và chị Lê Thị H có đăng ký kết hôn vào năm 2011 tại UBND xã H, huyện H L, tỉnh Quảng Trị. Hiện hai bên sống ly thân, mỗi người ở mỗi nơi; đề nghị Tòa án giải quyết theo nguyện vọng của các bên và quy định của pháp luật.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:

-Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại các Điều 26, 28, 35, 39, 97, 177, 195, 196, 203, 208, 220, 233 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa: Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Nguyên đơn chị Lê Thị H đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ quy định tại Điều 70, 71 và Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn anh Lê Thanh Q chưa thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, 72 và Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án đã tống đạt hợp lệ giấy triệu tập phiên tòa lần thứ 2 nhưng anh Q vẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy, căn cứ vào Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

- Về hướng giải quyết vụ án:

Về quan hệ hôn nhân, tranh chấp về nuôi con: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu khởi kiện cho chị Lê Thị H được ly hôn anh Lê Thanh Q; về nuôi con chung: Hiện tại cháu Lê Thanh Minh T, sinh ngày 19/3/2012 và cháu Lê Thanh Minh Đ, sinh ngày 19/3/2012 đang ở với chị H, cháu T và cháu Đ có đơn trình bày nguyện vọng ở với mẹ, nên giao 02 con cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp; anh Lê Thanh Q không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có ai yêu cầu giải quyết, nên không xem xét.

Về án phí: Chị Lê Thị H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Sau khi xem xét yêu cầu của nguyên đơn về việc giải quyết “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. Bị đơn có địa chỉ tại thôn T Ph, xã H, huyện H L, tỉnh Quảng Trị. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì yêu cầu giải quyết của nguyên đơn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị.

. Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng đúng trình tự thủ tục tố tụng cho nguyên đơn và bị đơn. Chị Lê Thị H đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ theo quy định của pháp luật, anh Lê Thanh Q chưa thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, 72 và Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự; chị H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh Q đã được tống đạt hợp lệ giấy triệu tập đến phiên tòa lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy, căn cứ vào Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

. Về quan hệ hôn nhân: Theo đơn khởi kiện ngày 26/9/2022, bản tự khai ngày 15/11/2022 của chị Lê Thị H, biên bản xác minh ngày 04/11/2022 và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận thấy: Chị Lê Thị H và anh Lê Thanh Q có đăng ký kết hôn vào năm 2011 tại UBND xã H Ch, huyện H L, tỉnh Quảng Trị. Sau khi kết hôn sống hạnh phúc, nhưng từ tháng 8/2019 vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, do tính tình không hòa hợp, hai bên sống ly thân từ tháng 4 năm 2020 cho đến nay, trong thời gian sống ly thân hai bên không quan tâm liên lạc gì với nhau, tình cảm vợ chồng nay không còn. Xét thấy, mục đích hôn nhân giữa chị Lê Thị H và anh Lê Thanh Q không đạt được, tình cảm vợ chồng nay không còn, cuộc sống chung không thể kéo dài nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Lê Thị H. Vì vậy, áp dụng khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu khởi kiện cho chị Lê Thị H được ly hôn anh Lê Thanh Q.

. Về nuôi con chung: Có 02 con chung là cháu Lê Thanh Minh T, sinh ngày 19/3/2012 và cháu Lê Thanh Minh Đ, sinh ngày 19/3/2012 được chị H chăm sóc, nuôi dưỡng từ khi khi nhỏ cho đến nay và đang ở với chị H, cháu T và cháu Đ có đơn trình bày nguyện vọng ở với mẹ, nên giao hai cháu cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; anh Lê Thanh Q không phải cấp dưỡng nuôi con.

. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

. Về án phí: Chị Lê Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, xử:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị H được ly hôn anh Lê Thanh Q.

- Về nuôi con chung: Giao cháu Lê Thanh Minh T, sinh ngày 19/3/2012 và cháu Lê Thanh Minh Đ, sinh ngày 19/3/2012 cho chị Lê Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; anh Lê Thanh Q không phải cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết

- Về án phí: Chị Lê Thị H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số CC2021/0000154 ngày 30 tháng 9 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hải Lăng, chị Lê Thị H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết hợp lệ./.

Cỡ chữ