vanban.org

Bản án 03/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chị Dương Thị T ly hôn anh Hoàng D.

Về con chung: Giao Hoàng N, sinh ngày 05/9/2008 và cháu Hoàng Q, sinh ngày 10/6/2007 cho anh Hoàng D trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị Dương Thị T không phải cấp dưỡng nuôi con. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Dương Thị T ly hôn anh Hoàng D.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN GIO LINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH QUẢNG TRỊ
Bản án số:03/2023/HNGĐ-ST
Ngày 12/4/2023
V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con
khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIO LINH

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nhan Ngọc Đăng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàn Đoán và bà Trần Thị Cúc.

Thư ký phiên tòa: Ông Lê Thanh Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gio Linh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gio Linh tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thúy Nhung - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 4 năm 2023, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 115/2022/TLST-HNGĐ ngày 11/10/2022 về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 08/3/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2023/QĐST-HNGĐ ngày 24/3/2023, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Dương Thị T, sinh năm 1985;

Nơi ĐKHK: thôn C, xã T, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị.

Hiện ở: thôn Q 2, xã V, Vạn Ninh, Khánh Hòa, có đơn xin xét xử vắng mặt.

Bị đơn: Anh Hoàng D, sinh năm 1982;

Địa chỉ: thôn C, xã T, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện đề ngày 26 tháng 8 năm 2022, các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ nguyên đơn chị Dương Thị T trình bày:

Ngày 07/11/2006, chị Dương Thị T và anh Hoàng D đăng ký kết hôn tại UBND xã Trung Hải, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị. Quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do tình tình không hợp dẫn đến bất đồng quan điểm, dẫn cải vã nhau, không tìm được tiếng nói chung, không quan tâm chăm sóc. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, tình trạng hôn nhân không thể kéo dài, nên Chị T có nguyện vọng được ly hôn với anh Hoàng D.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Hoàng N, sinh ngày 05/9/2008 và cháu Hoàng Q, sinh ngày 10/6/2007. Nếu ly hôn, Chị T đồng ý giao cháu Hoàng N và cháu Hoàng Q cho anh Hoàng D trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị T không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án cho bị đơn anh Hoàng D, nhưng Anh D không có văn bản trình bày ý kiến.

* Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

- Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình gải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS). Đương sự đã thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, nguyên đơn có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn vắng mặt không có lý do. Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 BLTTDS, đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn. Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 328 BLTTDS, đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng.

- Về nội dung vụ án: Căn cứ Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Đề nghị xử cho chị Dương Thị T được ly hôn anh Hoàng D.

Về con chung: Giao cháu Hoàng N, sinh ngày 05/9/2008 và cháu Hoàng Q, sinh ngày 10/6/2007 cho anh Hoàng D trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị Dương Thị T không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

Về án phí: Chị Dương Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ tranh chấp: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn và người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn. Căn cứ khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn anh Hoàng D có địa chỉ cư trú tại thôn C, xã T, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị. Nên Tòa án nhân dân huyện Gio Linh thụ lý giải quyết là đúng quy định theo điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt Thông báo phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa cho anh Hoàng D theo đúng quy định của BLTTDS nhưng bị đơn vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 BLTTDS Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn. Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 238 BLTTDS, Tòa án xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Dương Thị T và anh Hoàng D tự nguyện kết hôn năm 2006, tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành xác minh tình trạng hôn nhân của Chị T và Anh D tại nơi đang ký hộ khẩu thường trú, xác nhận: Vợ chồng Chị T và Anh D có xảy ra nhiều mâu thuẫn vợ chồng do bất đồng quan điểm, dẫn đến cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, Chị T đã bỏ đi khỏi địa phương từ năm 2012. Như vậy, đủ cơ sở để xác định quan hệ hôn nhân giữa Chị T và Anh D không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên áp dụng khoản 1 Điều 56 luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn.

Về con chung: Qúa trình chung sống vợ chồng chị Dương Thị T và anh Hoàng D có 02 con chung là cháu Hoàng N, sinh ngày 05/9/2008 và cháu Hoàng Q, sinh ngày 10/6/2007. Chị Dương Thị T có nguyện vọng giao 02 cháu Hoàng N và Hoàng Q cho anh Hoàng D trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị Dương Thị T không cấp dưỡng nuôi con. Quá trình giải quyết vụ án, anh Hoàng D không có ý kiến trình bày.

Hội đồng xét xử xét thấy, để quyết định người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn cho ai cần phải xem xét quyền lợi về mọi mặt của cha và mẹ để đảm bảo sự phát triển về thể chất và tinh thần đầy đủ cho con.

Điều kiện hiện tại của nguyên đơn chị Dương Thị T: Chị đang sống tại thôn Q 2, xã V, Vạn Ninh, Khánh Hòa. Cháu Hoàng N và Hoàng Q sống với Anh D từ trước đến nay nên Chị T có nguyện vọng giao 02 cháu cho anh Hoàng D trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

Điều kiện hiện tại của bị đơn anh Hoàng D: Qua xác minh tại chính quyền địa phương cho biết: Từ khi vợ chồng ly thân đến nay, Anh D cùng con sinh sống tại thôn C, xã T. Anh D là lao động tự do thu nhập mỗi tháng từ 4 đến 5 triệu đồng. Bên cạnh đó, cháu Hoàng N và Hoàng Q có nguyện vọng ở với anh Hoàng D.

Từ những phân tích nêu trên cho thấy bị đơn có đầy đủ điều kiện là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Hoàng N và Hoàng Q. Đồng thời nhằm đảm bảo nguyện vọng của 02 cháu, cũng như sự phát triển toàn diện của các cháu. Xét thấy, Anh D có điều kiện về chỗ ở cũng như thu nhập nên căn cứ Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu của đương sự và đề nghị của Viện kiểm sát giao cháu Hoàng N, sinh ngày 05/9/2008 và cháu Hoàng Q, sinh ngày 10/6/2007 cho anh Hoàng D trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị T không phải cấp dưỡng nuôi con .

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét.

Về án phí: Chị Dương Thị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 56, các Điều 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238; khoản 2 Điều 266, Điều 271 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về “ Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án”, xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Dương Thị T ly hôn anh Hoàng D.

2. Về con chung: Giao Hoàng N, sinh ngày 05/9/2008 và cháu Hoàng Q, sinh ngày 10/6/2007 cho anh Hoàng D trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị Dương Thị T không phải cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu nên Tòa án không xem xét.

4. Về án phí: Chị Dương Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí ly hôn sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số CC/2021/0000240 ngày 10/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gio Linh. Chị T đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.

Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kề từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ