vanban.org

Bản án 03/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Tường B.

[1]. Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Tường B được ly hôn với bà Võ Thị H. [2]. Về con chung: Giao con chung Nguyễn Thị Tường A sinh ngày 10/4/2007 và Nguyễn Đại P sinh ngày 08/8/2008 cho bà Võ Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Tường B.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN EAKAR

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐẮK LẮK
Bản án số: 03 /2023/HNGĐ – ST
Ngày:17/01/2023
V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EAKAR, TỈNH ĐẮK LẮK

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Nhã Phương.

- Các hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Tuyết và ông Nguyễn Thế Hằng

Thư ký phiên toà: Ông Phạm Xuân Quyết – Cán bộ Tòa án nhân dân huyện EaKar.

- Đại diên Viện kiểm sát nhân dân huyện EaKar tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Minh Nguyệt - Kiểm sát viên.

Ngày 17/01/2023, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện EaKar, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số 481/2022/TLST - HNGĐ, ngày 07 tháng 11 năm 2022; Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số54/2022/QĐXXST – HNGĐ ngày 30/12/2022; Quyết định hoãn phiên tòa số01/2023/QĐST-HNGĐ ngày 13/01/2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Tường B, sinh năm 1976. Nơi cư trú: Tổ dân phố T, thị trấn B, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Bà Võ Thị H, sinh năm 1976. Nơi cư trú: Thôn Đ, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản hòa giải nguyên đơn ông Nguyễn Tường B trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Ông B và bà Võ Thị H sau một thời gian tìm hiểu thì tự nguyện tiến tới hôn nhân và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk vào năm 2008. Trong cuộc sống hôn nhân do vợ chồng mâu thuẫn, bất đồng quan điểm nên vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vả, xúc phạm lẫn nhau. Mặc dù vợ chồng đã cố gắng để tiếp tục cuộc sống hôn nhân nhưng tình cảm vợ chồng vẫn không cải thiện được, ông B và bà H đã sống ly thân từ năm 2010 cho đến nay. Xét thấy cuộc sống vợ chồng không thể tiếp tục, mục đích hôn nhân không đạt được vì vậy ông B đề nghị Tòa án giải quyết cho ông B được ly hôn với bà H.

Về con chung: Ông B và bà H có hai con chung là Nguyễn Thị Tường A sinh ngày 10/4/2007 và Nguyễn Đại P sinh ngày 08/8/2008, từ khi ly thân đến nay các con chung đều sống cùng bà H, do đó sau khi ly hôn, ông B tôn trọng, đồng ý với nguyện vọng của các con sinh sống cùng với ai.

Về tài sản chung, công nợ: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại bản tự khai bị đơn bà Võ Thị H trình bày: Bà H và ông B cưới nhau từ năm 2005, đến năm 2008 mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã EaKmút, huyện Ea Kar. Trong cuộc sống hôn nhân, vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn do ông B có quan hệ với người phụ nữ khác, đánh đập vợ con dẫn đến vào năm 2010 bà H đã dẫn theo hai con chung là Nguyễn Thị Tường A sinh ngày 10/4/2007 và Nguyễn Đại P sinh ngày 08/8/2008 ra ở riêng tại xã EaKmút, huyện Ea Kar cho đến nay. Việc ông B làm đơn ly hôn bà H không đồng ý vì không muốn các con không có cha.

Vì không đồng ý ly hôn nên bà H không yêu cầu gì về nuôi con chung, tài sản chung.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân huyện EaKar đã ban hành các văn bản tố tụng, triệu tập các đương sự để tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ, hòa giải nhưng bị đơn không tham gia để giải quyết vụ án. Căn cứ Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành đưa vụ án ra xét xử xử theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn ông Nguyễn Tường B có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn bà Võ Thị H vắng mặt lần thứ hai, căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, xét xử vắng mặt các đương sự. Ông Nguyễn Tường B vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết cho ông B được ly hôn với bà Võ Thị H. Về con chung, sau khi ly hôn ông B tôn trọng, đồng ý với nguyện vọng của các con muốn sinh sống cùng với ai. Về tài sản chung và nợ chung không đề nghị tòa án giải quyết.

* Quan điểm của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán đã ban hành các quyết định, cấp tống đạt các văn bản tố tụng cho các đương sự đúng quy định. Thành phần Hội đồng xét xử đảm bảo theo đúng quy định của pháp luật; Qúa trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn không chấp hành quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung:Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 51, Điều 56 Điều 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Tường B. Cho ông Nguyễn Tường B được ly hôn với bà Võ Thị H.

- Về con chung: Giao con chung Nguyễn Thị Tường A sinh ngày 10/4/2007 và Nguyễn Đại P sinh ngày 08/8/2008 cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc đến khi con chung đủ 18 tuổi. Về cấp dưỡng, các đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

- Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu giải quyết.

Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết về án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:Ông Nguyễn Tường B có đơn khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân huyện EaKar giải quyết việc hôn nhân, con chung đối với bà Võ Thị H, đơn khởi kiện của ông B được Tòa án nhân dân huyện EaKar xác định quan hệ pháp luật là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung”, được quy định tại khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39và Điều 195 Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện EaKar.

Về thủ tục mở phiên tòa vắng mặt các đương sự: Tòa án nhân dân huyện EaKar đã tiến hành tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa cho các đương sự. Tuy nhiên tại phiên toà hôm nay, nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

Về nội dung vụ án:

Ông Nguyễn Tường B và bà Võ Thị H tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Ea Kmút, huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk vào ngày 23/5/2008 nên là hôn nhân hợp pháp. Theo ông B xác định trong cuộc sống hôn nhân do vợ chồng mâu thuẫn, bất đồng quan điểm nên vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vả, xúc phạm lẫn nhau. Mặc dù vợ chồng đã cố gắng để tiếp tục cuộc sống hôn nhân nhưng tình cảm vợ chồng vẫn không cải thiện được và cả hai đã sống ly thân với nhau từ năm 2010 đến nay. Xét thấy cuộc sống vợ chồng không thể tiếp tục, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông B có nguyện vọng được ly hôn với bà Võ Thị H.

Qua xác minh tại chính quyền địa phương xác định không rõ nguyên nhân mâu thuẫn của ông B và bà H là gì, không báo chính quyền địa phương nhưng bà H và ông B đã không sống chung với nhau từ năm 2010 đến nay.

Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Tường B, cho ông Nguyễn Tường B được ly hôn với bà Võ Thị H.

Về con chung: Ông B và bà H có hai con chung là Nguyễn Thị Tường A sinh ngày 10/4/2007 và Nguyễn Đại P sinh ngày 08/8/2008.

Tại bản tự khai, Nguyễn Thị Tường A và Nguyễn Đại P đều có nguyện vọng được ở với mẹ là bà Võ Thị H. Qua xác minh tại chính quyền địa phương, cả hai con chung đều sống với bà H từ nhỏ cho đến nay. Để đảm bảo cho sự phát triển lành mạnh về tâm, sinh lý, cũng như để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của các cháu là hoàn toàn phù hợp và thỏa đáng nên căn cứ Điều 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 giao Nguyễn Thị Tường A sinh ngày 10/4/2007 và Nguyễn Đại P sinh ngày 08/8/2008 cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc đến khi con chung đủ 18 tuổilà phù hợp với quy định của pháp luật.

Về trợ cấp nuôi con: Các đương sự không yêu cầu nên không đặt ra để giải quyết

Về tài sản chung và công nợ: Đương sự không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không đề cập.

Về án phí: Ông Nguyễn Tường B phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Xét quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 144, Khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 203, điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, và Điều 266 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Căn cứ khoản 1 Điều 51, Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 81, 82 và Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014

- Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14ngày 30/12/2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Tường B.

[1]. Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Tường B được ly hôn với bà Võ Thị H.

[2]. Về con chung: Giao con chung Nguyễn Thị Tường A sinh ngày 10/4/2007 và Nguyễn Đại P sinh ngày 08/8/2008 cho bà Võ Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

Ông Nguyễn Tường B được quyền đi lại thăm nom con chung và không ai được cản trở. Tuy nhiên, ông Nguyễn Tường B không được lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung. Vì lợi ích của con chung khi cần thiết, các bên có quyền thay đổi việc nuôi con chung.

[3]. Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

[4]. Về án phí: Ông Nguyễn Tường B phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm; được khấu trừ số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai số AA/2021/0020337 ngày 07 tháng 11 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk.

[5]. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự./

Cỡ chữ