- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Tý Lan - Nguyễn Văn Hưng"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Tý L được ly hôn ông Nguyễn Văn H .
- Căn cứ chính? luật tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN D TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 03/2023/HNGĐ-ST Ngày: 11-01-2023 V/v Xin ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIÊT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN D – TỈNH LÂM ĐỒNG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông K’ My Na.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phan Văn Phương;
2. bà Phạm Thị Hiền.
Thư ký phiên tòa: Bà Giáp Thị Thu Ly – Thư ký Tòa án nhân dân huyện D , tỉnh Lâm Đồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện D tham gia phiên tòa : Ông K’ Dem- Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 01 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện D . Xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 310/2022/TLST-HNGĐ ngày 31-10-2022 về việc xin ly hôn theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 87/2022/QĐXX-HNGĐ ngày 20-12-2022 của Tòa án nhân dân huyện D giữa các đương sự:
+ Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Tý L , sinh năm 1974.
Địa chỉ: Số 76A thôn L , xã G , huyện D , tỉnh Lâm Đồng.
+ Bị đơn: ông Nguyễn Văn H , sinh năm 1971. Địa chỉ cư trú cuối cùng: Số 76A thôn L , xã G , huyện D , tỉnh Lâm Đồng.
Bà L vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt; ông H
vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã được Tòa án tuyên bố mất tích tại Quyết định số 02/2022/QĐST- DS ngày 21-9-2022.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, lời khai và lời trình bày tại đơn xin giải quyết vắng mặt nguyên đơn bà L trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông H tự nguyện kết hôn năm 1995, đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn D , huyện D , sau khi kết hôn vợ chồng về sinh sống tại thôn Đ , xã G sau đó chuyển về sống thôn L , xã G , huyện D .Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2000 phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do sống không hợp nhau, ông H hay uống rượu, về nhà chửi bới đánh đập bà đến tháng 6- 2006 ông H bỏ nhà đi biệt tích đến nay không liên lạc và bà đã làm đơn đề nghị Tòa án tuyên bố ông H mất tích, đã được Tòa án giải quyết tại Quyết định số 02/2022/QĐST-DS ngày 21-9-2022. Nay bà làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông H .
Về con chung: Bà và ông H có 01 con chung tên Nguyễn Ngọc Q , sinh năm 1997. Hiện đã trưởng thành hoàn toàn khỏe mạnh.
Về tài sản: Tài sản chung, tài sản nợ chung và tài sản cho vay chung: Không có. Khi ly hôn không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản.
Bị đơn ông H đã được Tòa án giải quyết tại Quyết định định số 02/2022/QĐST-DS ngày 21-9-2022 về việc tuyên bố một người mất tích. Sau khi tuyên bố mất tích hiện nay cũng không có tin tức gì về ông H . Bà L cũng không biết ông H còn sống hay đã chết nên không có ý kiến trình bày.
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện D , tỉnh Lâm Đồng có quan điểm: Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng khác trong quá trình giải quyết vụ án là đúng quy định pháp luật.
Về nội dung giải quyết vụ án, căn cứ tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà L được ly hôn ông H .
Về án phí: Đương sự phải chịu án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Tý L nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn ông Nguyễn Văn H vắng mặt nhưng đã được Tòa án tuyên bố mất tích tại Quyết định số 02/2022/QĐST-DS ngày 21-9-2022, Căn cứ Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
Về quan hệ hôn nhân: Bà L và ông H tự nguyện kết hôn năm 1995, đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn D , huyện D , tỉnh Lâm Đồng là hôn nhân hợp pháp.
Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2000 phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do sống không hợp nhau, ông H hay uống rượu, về nhà chửi bới đánh đập bà đến tháng 6- 2006 ông H bỏ nhà đi biệt tích đến nay không liên lạc và bà đã làm đơn đề nghị Tòa án tuyên bố ông H mất tích, đã được Tòa án giải quyết tại Quyết định số 02/2022/QĐST-DS ngày 21-9-2022. Nay bà làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông H . Xét mâu thuẫn vợ chồng giữa bà L và ông H đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, căn cứ điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 bà L được ly hôn ông H là phù hợp.
Về con chung: Bà L xác định, bà và ông H có 01 con chung tên Nguyễn Ngọc Q , sinh năm 1997. Hiện đã trưởng thành hoàn toàn khỏe mạnh. Khi ly hôn bà L không yêu cầu tòa án giải quyết, ông H lại vắng mặt không có ý kiến trình bày nên không xem xét giải quyết.
Về tài sản: Bà L xác định tài sản chung, tài sản nợ chung và tài sản cho vay chung không có. Khi ly hôn không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản. ông H vắng mặt, không có ý kiến trình bày nên không xem xét giải quyết về tài sản. Nếu có tranh chấp sẽ được giải quyết bằng một vụ án khác khi có đơn yêu cầu khởi kiện.
Về án phí : Căn cứ Điều 144; Điều 147 của bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/NQ- UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Đương sự phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 144; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Đều 238; Điều 266; Điều 273 Bộ luật tố tụng sân sự;
Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
1.Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Tý L được ly hôn ông Nguyễn Văn H .
2.Về án phí: Bà Nguyễn Thị Tý L phải chịu 300.000đ án phí xin ly hôn, được trừ vào số tiền 300.000đ, được trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0006912 ngày 31-10-2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện D (Đã nộp đủ án phí).
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án hôm nay, đương sự có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Người vắng mặt tại phiên Tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lâm Đồng (2); - VKSND huyện D ; - Chi cục THADS huyện D - Đương sự; - UBND thị trấn D ; Lưu hồ sơ vụ án. hánọa phiên tòa | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA K’ My Na |