- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn, nuôi con"
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯ PĂH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH GIA LAI Bản án số: 03/2023/HNGĐ - ST Ngày: 14/4/2023 “V/v Tranh chấp ly hôn và nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯ PĂH, TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Hòa.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Võ Nguyên Giác;
2. Ông Trịnh Văn Nguyên.
- Thư ký phiên toà: Ông Hà Văn Sáng - Thư ký Toà án nhân dân huyện Chư Păh, tỉnh Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Păh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Diệp - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 4 năm 2023, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân huyện Chư Păh, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án HNGĐ thụ lý số: 107/2022/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 8 năm 2022 về việc“Tranh chấp ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2023/QĐXXST- HNGĐ ngày 16 tháng 02 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 03/2023/QĐST-HNGĐ ngày 10 tháng 3 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số: 04/2023/QĐST-HNGĐ ngày 29 tháng 3 năm 2023 giữa các đương sự:
-Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Mỹ H, sinh năm 1997
Địa chỉ: Tổ dân phố .., thị trấn P, huyện Chư Păh, tỉnh Gia Lai. Có mặt
-Bị đơn: Anh Lê Mạnh H, sinh năm 1989
Địa chỉ: Tổ dân phố ..., thị trấn P, huyện Chư Păh, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện đề ngày 11/8/2022, bản tự khai, tài liệu có tại hồ sơ và tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Mỹ H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Lê Mạnh H tự nguyện tìm hiểu và có đăng ký kết hôn vào ngày 24/3/2017 tại Ủy ban nhân dân thị trấn P, huyện Chư Păh, tỉnh Gia Lai. Vợ chồng chị chung sống được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh H không chăm lo cho gia đình, đi chơi nhậu nhẹt rồi về nhà gây chuyện với vợ con. Vì con cái nên chị cố gắng chịu đựng nhưng cuộc sống cứ kéo dài như vậy nên chị không thể chịu đựng được nữa, vợ chồng không thể hòa hợp, không có tiếng nói chung. Từ tháng 6 năm 2022 chị và anh H sống ly thân cho đến nay, chị xét thấy không còn tình cảm với anh H, không thể quay về chung sống với nhau được nữa nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hông với anh Lê Mạnh H.
Về con chung: Chị và anh H có 01 con chung là Lê Ngọc Gia K, sinh ngày 15/8/2017. Ly hôn, chị có nguyện vọng được nuôi trực tiếp con chung.
Về cấp dưỡng nuôi con: Tại đơn khởi kiện chị yêu cầu anh H phải cấp dưỡng tiền nuôi con theo quy định pháp luật. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, chị không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng tiền nuôi con cho chị.
Về tài sản chung và nghĩa vụ chung: Chị H không yêu cầu giải quyết.
Ngoài ra, Chị H không có yêu cầu gì thêm.
Tại bản tự khai, biên bản hòa giải bị đơn anh Lê Mạnh H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Nguyễn Thị Mỹ H tự nguyện tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn , huyện Chư Păh, tỉnh Gia Lai. Quá trình chung sống anh và chị H có phát sinh mâu thuẫn do tính tình chưa hòa hợp, vợ chồng tuy bất đồng quan điểm nhưng anh xét thấy mâu thuẫn vợ chồng chưa thật sự trầm trọng, anh vẫn còn tình cảm với chị H nên anh mong muốn vợ chồng đoàn tụ, vì vậy anh không đồng ý ly hôn.
Về con chung: Anh và chị H có 01 con chung là Lê Ngọc Gia K, sinh ngày 15/8/2017. Trong trường hợp Tòa án giải quyết ly hôn thì anh có nguyện vọng được nuôi trực tiếp con chung.
Về cấp dưỡng nuôi con: Anh không yêu cầu chị H phải cấp dưỡng tiền nuôi con.
Về tài sản chung và nghĩa vụ chung: Anh H không yêu cầu giải quyết.
Ngoài ra, anh H không có yêu cầu gì thêm.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và nguyên đơn là đảm bảo theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai, do đó Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Về án phí: Áp dụng khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự. Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Chị Nguyễn Thị Mỹ H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Chư Păh theo quy định khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn anh Lê Mạnh H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tống tụng nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thấy rằng:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Mỹ H và anh Lê Mạnh H tự nguyện tìm hiểu và có đăng ký kết hôn vào ngày 24/3/2017 tại Ủy ban nhân dân thị trấn P, huyện Chư Păh, tỉnh Gia Lai. Việc kết hôn giữa chị H và anh H là hợp pháp, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ chồng.
Trong quá trình chung sống, chị H cho rằng anh H không chăm lo cho gia đình, thường đi nhậu rồi về nhà gây chuyện với vợ con. Vì con cái nên chị cố gắng chịu đựng nhưng cuộc sống cứ kéo dài như vậy nên chị không thể chịu đựng được nữa, vợ chồng không thể hòa hợp, không có tiếng nói chung. Vì vậy chị làm đơn khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh H. Còn anh H cho rằng quá trình chung sống anh và chị H có phát sinh mâu thuẫn do tính tình chưa hòa hợp, vợ chồng tuy bất đồng quan điểm nhưng anh xét thấy mâu thuẫn vợ chồng chưa thật sự trầm trọng, anh vẫn còn tình cảm với chị H nên anh mong muốn vợ chồng đoàn tụ, anh không đồng ý ly hôn. Xét lời khai của chị H phù hợp với lời khai của anh H, như vậy có thể thấy mâu thuẫn giữa chị H và anh H là có thật, quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành hòa giải để cho vợ chồng đoàn tụ, nhưng chị H vẫn khăng khăng ly hôn, do đó nếu cho anh chị tiếp tục hôn nhân thì cũng sẽ không đem lại hạnh phúc cho đôi bên. Xét tình trạng hôn nhân giữa giữa chị H và anh H đã đến mức trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, nên áp dụng Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn chị H.
- Về con chung: Chị H và anh H có 01 con chung là Lê Ngọc Gia K, sinh ngày 15/8/2017. Ly hôn, chị H và anh H đều có nguyện vọng được nuôi trực tiếp con chung.
Xét nguyện vọng xin được nuôi con của chị H và anh H, thấy rằng: Hiện nay cháu Lê Ngọc Gia K còn nhỏ nên cần tình thương yêu và sự chăm sóc của cả cha lẫn mẹ, yêu cầu được nuôi con của anh chị là nguyện vọng chính đáng. Tuy nhiên, từ tháng 6 năm 2022 đến nay, khi anh chị sống ly thân chị H là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung, chị H vẫn đảm bảo cho sự phát triển bình thường về mọi mặt của con. Do đó, căn cứ vào Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử xét thấy chị H có đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục con chung, nên chấp nhận yêu cầu của chị H.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị H không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng tiền nuôi con, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về tài sản chung và nghĩa vụ chung khác: Chị H và anh H không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét.
Về án phí: Căn cứ vào Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thì chị Nguyễn Thị Mỹ H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- Các Điều 56, 57, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình. Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
-Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Mỹ H được ly hôn với anh Lê Mạnh H.
- Về con chung: Giao cháu Lê Ngọc Gia K, sinh ngày 15/8/2017 cho chị H trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cho đến khi con thành niên có khả năng lao động hoặc đã thành niên nhưng không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
Về cấp dưỡng nuôi con: Anh H không phải cấp dưỡng tiền nuôi con cho chị H.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này. Trong trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một bên hoặc cả hai bên, các bên có quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc việc cấp dưỡng nuôi con.
- Về án phí: Buộc chị Nguyễn Thị Mỹ H phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước, được khấu trừ vào số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) chị H đã nộp tạm ứng án phí trước đây theo biên lai thu án phí, lệ phí Tòa án số: 0007236 ngày 16 tháng 8 năm 2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Chư Păh, tỉnh Gia Lai.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, nguyên đơn có quyền làm đơn kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm.
Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày Tòa án niêm yết bản án.
“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a,7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”./.
| Nơi nhận : -TAND tỉnh Gia Lai; -VKSND h. Chư Păh; -THADS h. Chư Păh; -UBND TT P; -Đương sự; -Lưu HSVA. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Lê Thị Hòa |