vanban.org

Bản án 03/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Huỳnh Thùy L đối với anh Trần Minh Q về việc ly hôn và tranh chấp về nuôi con.

Về hôn nhân: cho chị Nguyễn Huỳnh Thùy L ly hôn anh Trần Minh Q. Về nuôi con chung: anh Trần Minh Q có trách nhiệm giao con chung tên Trần Nguyễn Minh H, sinh ngày 18 tháng 9 năm 2021 cho chị Nguyễn Huỳnh Thùy L trực tiếp nuôi, chị Nguyễn Huỳnh Thùy L không yêu cầu anh Trần Minh Q cấp dưỡng nuôi con… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con giữa chị Nguyễn Huỳnh Thùy L và anh Trần Minh Q"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Huỳnh Thùy L đối với anh Trần Minh Q về việc ly hôn và tranh chấp về nuôi con.
  • Căn cứ chính? Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÀU BÀNG
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 16-01-2023
V/v ly hôn và tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÀU BÀNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Kim Xuyến.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Long Giang;

Bà Võ Thị Tổng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Phương, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Giang - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 247/2022/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 10 năm 2022 về ly hôn và tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 107/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 12 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 86/2022/QĐST-HNGĐ ngày 30 tháng 12 năm 2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Huỳnh Thùy L, sinh năm 1995; cư trú tại: số 69/1A, đường Nguyễn Công T, phường 19, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh, có mặt.

- Bị đơn: Anh Trần Minh Q, sinh năm 1992; cư trú tại: tổ 2, ấp C, xã T II, huyện B, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại Đơn khởi kiện đề ngày 14 tháng 7 năm 2022 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn chị Nguyễn Huỳnh Thùy L trình bày:

Về hôn nhân: chị L đăng ký kết hôn với anh Trần Minh Q tại Ủy ban nhân dân phường 19, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh vào ngày 02 tháng 4 năm 2021 (Giấy chứng nhận kết hôn số 26); hôn nhân tự nguyện.

Sau khi kết hôn, chị L mang thai và sinh con nên chị L vẫn ở nhà cha mẹ của chị L tại Thành phố Hồ Chí Minh, còn anh Q đi làm ở M, tỉnh Bình Dương. Thời điểm đó khoảng tháng 9 năm 2021, do tình hình dịch bệnh Covid-19 còn phức tạp nên khoảng hai, ba ngày đến một tuần anh Q mới về thăm con. Khoảng tháng 11 năm 2021, chị L phát hiện anh Q thiếu nợ ở ngoài, số nợ khoảng vài trăm triệu đồng và nợ nhiều người. Khi chị L hỏi, anh Q nói do kinh doanh lan kiểng nhưng dịch bệnh bán không được nên mắc nợ. Nhiều chủ nợ nhắn tin đòi nợ chị L. Chị L và gia đình anh Q vẫn đồng ý trả nợ cho anh Q nhưng anh Q không cho gia đình biết rõ số nợ cụ thể và nợ những ai; anh Q chỉ né tránh gia đình và chị L, không về nhà thăm con. Mâu thuẫn giữa chị L và anh Q ngày càng trầm trọng. Từ tháng 4 năm 2022 đến nay, anh Q cắt đứt liên lạc với chị L. Nay chị L nhận thấy không thể tiếp tục chung sống với anh Q nên yêu cầu được ly hôn.

Về nuôi con chung: quá trình chung sống, chị L và anh Q có một con chung tên Trần Nguyễn Minh H, sinh ngày 18 tháng 9 năm 2021. Hiện cháu đang ở với chị L. Theo đơn khởi kiện ban đầu, chị L yêu cầu được nuôi cháu H và yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 5.000.000 đồng. Hiện nay, chị L chỉ yêu cầu được nuôi cháu H và không yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con chung.

Về chia tài sản và nợ chung: chị L không tranh chấp nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Trần Minh Q đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần để lấy lời khai, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải và tham gia phiên tòa nhưng anh Q đều vắng mặt không lý do. Tòa án không ghi nhận được ý kiến của anh Q.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng và về việc giải quyết vụ án: quá trình giải quyết vụ án, việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng, Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng nhận định:

Về tố tụng:

Bị đơn anh Q đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa không lý do, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh Q.

Về yêu cầu của nguyên đơn:

Về hôn nhân:

Hôn nhân của chị L và anh Q là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, anh chị phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân chị L cho rằng anh Q thiếu nợ nhiều người nhưng không cùng chị L và gia đình tìm cách giải quyết mà né tránh, anh Q không liên lạc với chị L từ tháng 4 năm 2022 đến nay. Vì vậy, chị L khởi kiện yêu cầu ly hôn anh Q theo quy định tại khoản 1 Điều 51 của Luật Hôn nhân và Gia đình.

Xét thấy, chị L và anh Q là vợ chồng nhưng không sống chung với nhau là đã không giữ gìn tình nghĩa vợ chồng theo quy định tại Điều 19 của Luật Hôn nhân và Gia đình. Anh Q đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh Q bỏ mặc không tham gia tố tụng, không trình bày ý kiến tại Tòa đối với yêu cầu ly hôn của chị L. Xét thấy, hôn nhân của chị L và anh Q đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được; căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị L, quyết định cho chị L và anh Q ly hôn.

Về nuôi con chung:

Chị L và anh Q có một con chung tên Trần Nguyễn Minh H, cháu đang sống với chị L. Chị L yêu cầu được nuôi cháu H và không yêu cầu anh Q cấp dưỡng. Xét hiện nay cháu H dưới 36 tháng tuổi, vì vậy yêu cầu của chị L về nuôi con chung là phù hợp theo quy định khoản 3 Điều 81 của Luật Hôn nhân và Gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận, anh Q có trách nhiệm giao con chung cho chị L trực tiếp nuôi. Chị L không yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét. Anh Q có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở theo quy định tại khoản 3 Điều 82 của Luật Hôn nhân và Gia đình.

Về chia tài sản và nợ chung: chị L và anh Q không tranh chấp nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Xét ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa về việc tuân theo pháp luật tố tụng và về việc giải quyết vụ án là phù hợp.

Về án phí:

Chị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 6 và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, khoản 3 Điều 81 và khoản 3 Điều 82 của Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 1 Điều 6 và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Huỳnh Thùy L đối với anh Trần Minh Q về việc ly hôn và tranh chấp về nuôi con.

Về hôn nhân: cho chị Nguyễn Huỳnh Thùy L ly hôn anh Trần Minh Q.

Về nuôi con chung: anh Trần Minh Q có trách nhiệm giao con chung tên Trần Nguyễn Minh H, sinh ngày 18 tháng 9 năm 2021 cho chị Nguyễn Huỳnh Thùy L trực tiếp nuôi, chị Nguyễn Huỳnh Thùy L không yêu cầu anh Trần Minh Q cấp dưỡng nuôi con.

Anh Trần Minh Q có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Về chia tài sản và nợ chung: chị Nguyễn Huỳnh Thùy L và anh Trần Minh Q không tranh chấp nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Về án phí: chị Nguyễn Huỳnh Thùy L phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) chị Nguyễn Huỳnh Thùy L đã nộp theo biên lai số AA/2021/0009324 ngày 27 tháng 9 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện B, tỉnh Bình Dương. Chị Nguyễn Huỳnh Thùy L đã nộp xong án phí.

3. Về quyền kháng cáo: nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ