vanban.org

Bản án 03/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài

TAND TP. Cần Thơ Tuyên án 10/01/2023 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Yến Nh.

Về hôn nhân: cho bà Nguyễn Thị Yến Nh được ly hôn với ông Wang, Chih-Ming. Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Bà Yến Nh trình bày không có nên không đặt ra xem xét giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Yến Nh.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 153 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03 /2023/HNGĐ-ST
Ngày: 10-01-2023
V/v "Tranh chấp ly hôn"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quyến

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Lê Kim Hiếu

Ông Nguyễn Đức Phương

- Thư ký phiên tòa: Bà Thị Hoàng Oanh - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: ông Bùi Trung Nam - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 01 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 66/2022/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 05 năm 2022 về “tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 122/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 12 năm 2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Yến Nh, sinh năm 1996; Địa chỉ: Số 112, ấp 1, xã Đ, huyện C, thành phố Cần Thơ. Đề nghị xét xử vắng mặt

- Bị đơn: Ông Wang, Chih-Ming, sinh năm 1978; Địa chỉ: Số 9, Thượng Khanh Từ Khẩu, Khóm 004, phường Thượng Đức, Khu Bình Lâm, thành phố Tân Bắc, Đài Loan. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Nguyễn Thị Yến Nh trình bày và yêu cầu:

Bà và ông Wang, Chih-Ming tự nguyện tìm hiểu, tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân huyện C, thành phố Cần Thơ ngày 18/03/2020. Sau khi kết hôn, bà ở Việt Nam, còn chồng về Đài Loan để làm thủ tục bảo lãnh cho bà, nhưng do dịch bệnh không thể bảo lãnh nên phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng không còn liên lạc với nhau từ đầu năm 2021 cho đến nay.

Nay, bà không còn tình cảm vợ chồng với ông Wang, Chih-Ming nên yêu cầu ly hôn; về con chung, tài sản chung, nợ chung: Không có.

- Ông Wang, Chih-Ming đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng đều vắng mặt và không có ý kiến phản hồi.

- Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tại phiên tòa thể hiện, những người tiến hành tố tụng, đương sự đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án, qua xem xét các tài liệu chứng cứ đã thẩm tra, Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Bà Yến Nh khởi kiện xin ly hôn với ông Wang, Chih-Ming cư trú tại Đài Loan nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ, phù hợp với quy định tài khoản 1 Điều 28, Điều 37 và Điều 469 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa hôm nay, bà Yến Nh đề nghị xét xử vắng mặt, còn ông Wang, Chih-Ming đã được tống đạt hợp lệ nhiều lần nhưng đều vắng mặt. Trên cơ sở đó, Tòa án mở phiên tòa xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là có căn cứ.

Về hôn nhân: Hôn nhân giữa bà Yến Nh và ông Wang, Chih-Ming là hôn nhân hợp pháp. Sau một thời gian ngắn chung sống thì không còn sống chung, bà Yến Nh sinh sống tại Việt Nam, còn ông Wang, Chih-Ming sinh sống tại Đài Loan, vợ chồng cũng không liên lạc với nhau từ đầu năm 2021 do bất đồng ngôn ngữ, mâu thuẫn, không còn quan tâm lẫn nhau. Xét thấy, mục đích hôn nhân giữa bà Yên Nhi và ông Wang, Chih-Ming không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, do đó cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn, cho Yên Nhi được ly hôn với ông Wang, Chih-Ming, phù hợp với Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Bà Yên Nhi khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề giải quyết, nếu có phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự khi có yêu cầu khởi kiện của đương sự.

Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng và lệ phí ủy thác là 200.000 đồng, nguyên đơn phải chịu.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, Điều 37, khoản 4 Điều 147, Điều 153, khoản 2 Điều 227, khoản 5 Điều 477, khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Yến Nh.

- Về hôn nhân: cho bà Nguyễn Thị Yến Nh được ly hôn với ông Wang, Chih-Ming.

- Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Bà Yến Nh trình bày không có nên không đặt ra xem xét giải quyết.

2. Án phí hôn nhân sơ thẩm: bà Nguyễn Thị Yến Nh phải chịu 300.000đ, được khấu trừ vào 300.000đồng tiền tạm ứng án phí bà Yến Nh đã nộp theo biên lai thu số 0000231 ngày 27/04/2022 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ, bà Yến Nhi đã nộp đủ án phí.

3. Về chi phí tố tụng: Bà Yến Nh phải chịu 200.000đồng lệ phí ủy thác tư pháp nhưng được khấu trừ vào 200.000đ tiền tạm ứng đã nộp theo biên lai thu số 0000254 ngày 12/05/2022 của Cục thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ. Bà Yến Nhi đã nộp đủ chi phí tố tụng.

4. Về quyền kháng cáo: Bà Yến Nh có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, ông Wang, Chih-Ming được quyền kháng cáo trong hạn 30 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật, để yêu cầu Tòa án nhân dân Cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm theo luật định./.

Cỡ chữ