vanban.org

Bản án 03/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài

TAND tỉnh Nghệ An Tuyên án 09/01/2023 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Đậu Thị L được ly hôn với anh Cao Xuân T.

[2] Về con chung: Giao cháu Cao Thị PN, sinh ngày 23/11/2017 cho chị Đậu Thị L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu PN đủ 18 tuổi. Người không trực tiếp nuôi con chung có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Đậu … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp hôn nhân Lam Thang"
  • Tòa quyết gì? [1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Đậu Thị L được ly hôn với anh Cao Xuân T.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 122 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 09/01/2023
V/v “Tranh chấp Hôn nhân
và gia đình”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quốc Cường

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Duy Bảo

Bà Nguyễn Thị Quế Anh

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Ngọc Quyên – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Phương Nam – Kiểm sát viên.

Ngày 09/01/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 276/2022/TLST - HNGĐ ngày 24/10/2022, về việc “Tranh chấp Hôn nhân và Gia đình”

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 276/2022/QĐXX-ST ngày 05/12/2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Đậu Thị L. Sinh năm 1992. Địa chỉ: Xóm 4, xã D, huyện DC, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt)

- Bị đơn: Anh Cao Xuân T. Sinh năm 1990. Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Xóm 4, xã D, huyện DC, tỉnh Nghệ An. Hiện đang cư trú tại Hàn Quốc.Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai chị Đậu Thị L trình bày: Chị L và anh Cao Xuân T kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã D, huyện DC, tỉnh Nghệ An vào ngày 24/2/2017. Thời gian đầu tình cảm vợ chồng hạnh phúc. Đến khoảng cuối năm 2017, anh T đi Hàn Quốc, thời gian đầu anh vẫn liên lạc bình thường, tuy nhiên từ năm 2018 do ghen tuông vô cớ nên anh T ít liên lạc và đến nay không liên lạc về với vợ con, không có trách nhiệm với vợ con, không gửi tiền về nuôi con, thờ ơ, lạnh nhạt với vợ con. Chị L thấy tình cảm không thể hàn gắn được nữa nên yêu cầu Tòa án cho ly hôn với anh Cao Xuân T. Về con chung: Hai vợ chồng có 01 con chung là cháu Cao Thị PN, sinh ngày 23/11/2017, hiện cháu đang ở với chị L. Ly hôn, chị L yêu cầu được trực tiếp nuôi con và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: Chị Thanh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về phía bị đơn, anh Cao Xuân T: Sau khi thụ lý, Tòa án đã gửi, niêm yết các văn bản tố tụng; Thông báo thụ lý vụ án, Công văn đề nghị gia đình anh T cung cấp thông tin, địa chỉ của anh T ở nước ngoài, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa. Tại biên bản xác M ngày 29/11/2022 bà Vũ Thị M là mẹ đẻ anh T cho biết: Năm 2017 anh T và chị L kết hôn. Cuối năm 2017, anh T đi xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc. Từ khi đi xuất khẩu tại Hàn Quốc, anh T vẫn thường xuyên liên lạc với bà bằng điện thoại, zalo…Quá trình liên lạc về bà có thông báo việc Tòa án đã yêu cầu anh T cung cấp địa chỉ ở nước ngoài nhưng anh T không cung cấp vì vậy, bà không biết địa chỉ nơi cư trú, làm việc của anh T để cung cấp cho Tòa án. Bà cũng thông báo cho anh T biết việc chị L làm đơn ly hôn, anh T cũng đồng ý ly hôn và đề nghị Tòa án xét xử ly hôn vắng mặt anh T.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử tuân thủ đúng các quy định của pháp luật. Việc thu thập chứng cứ đầy đủ, tống đạt các văn bản tố tụng đúng quy định. Bị đơn anh Cao Xuân T đã được Tòa án niêm yết các văn bản tố tụng nhưng anh không có ý kiến về giải quyết vụ án và không có mặt tại phiên tòa. Đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị L. Về con chung: Giao con chung cho chị L nuôi dưỡng. Về tài sản: Đương sự không yêu cầu nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, trình bày của đương sự được thẩm tra tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Vụ án Hôn nhân và Gia đình về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” là loại tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn anh Cao Xuân T có địa chỉ cư trú tại xóm 4, xã D, huyện DC, tỉnh Nghệ An; anh T hiện đang sinh sống và làm việc tại Hàn Quốc. Do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An theo quy định tại khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37 và Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 122, Điều 123 và Điều 127 của Luật Hôn nhân và Gia đình.

Về thủ tục tố tụng: Anh Cao Xuân T hiện đang sinh sống và làm việc tại Hàn Quốc. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã gửi văn bản cho bà Vũ Thị M là mẹ đẻ anh T, đề nghị bà M thông báo cho anh T biết về yêu cầu khởi kiện của chị L. Tòa án cũng đã niêm yết các văn bản tố tụng bao gồm thông báo về việc thụ lý vụ án, quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm, quyết định hoãn phiên tòa, tại nơi cư trú của anh T trước khi đi nước ngoài và yêu cầu bà M cung cấp địa chỉ cụ thể của anh T ở Hàn Quốc nhưng bà M không cung cấp được. Theo kết quả trả lời xác M tại Công văn số 12169/QLXNC-P5 ngày 13/6/2022 của Cục quản lý xuất nhập cảnh – Bộ Công an: Anh Cao Xuân T có thông tin xuất nhập cảnh nhiều lần, lần cuối xuất cảnh ngày 08/02/2018..... hiện chưa có thông tin nhập cảnh.

Theo tài liệu liên quan, biên bản xác M tại nhà bà Vũ Thị M thì anh Cao Xuân T có hộ khẩu tại xóm 4, xã D, huyện DC, tỉnh Nghệ An đã đi nước ngoài, hiện không sinh sống tại địa phương. Tòa án đã niêm yết các Quyết định để triệu tập hợp lệ hai lần nhưng anh T vắng mặt không có lý do. Vụ án thuộc trường hợp không thể hòa giải được theo khoản 1 Điều 207 của Bộ luật tố tụng dân sự. Chị Đậu Thị L có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.

Xét nội dung vụ án và các ý kiến, yêu cầu của đương sự:

Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ nội dung đơn khởi kiện, bản tự khai, nhận thấy, Chị L và anh Cao Xuân T kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã D, huyện DC, tỉnh Nghệ An vào ngày 24/2/2017. Thời gian đầu tình cảm vợ chồng hạnh phúc, đến cuối năm 2017, anh T đi Hàn Quốc, lúc đầu anh T vẫn liên lạc bình thường, tuy nhiên từ năm 2018 anh T ít liên lạc và đến nay không liên lạc về với vợ con, không có trách nhiệm với vợ con, không gửi tiền về nuôi con, thờ ơ, lạnh nhạt với vợ con. Chị L thấy tình cảm không thể hàn gắn được nữa nên yêu cầu Tòa án cho ly hôn với anh Cao Xuân T. Khi biết chị L xin ly hôn tại Tòa án, anh T cũng đã đồng ý. Xét thấy tình cảm vợ chồng giữa chị L và anh T không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Đậu Thị L. Căn cứ khoản 1, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình giải quyết cho chị Đậu Thị L được ly hôn với anh Cao Xuân T.

Về con chung: Vợ chồng chị Đậu Thị L, anh Cao Xuân T có 01 con chung là cháu Cao Thị PN, sinh ngày 23/11/2017, hiện cháu đang ở với chị L. Ly hôn, chị L yêu cầu được trực tiếp nuôi con và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Anh T hiện đang ở nước ngoài và không có ý kiến, tài liệu gì gửi Tòa án về việc nuôi con và đóng góp nuôi con chung. Vì vậy, cần giao cho chị L tiếp tục nuôi dưỡng cháu PN. Anh T có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở. Hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng theo quy định.

Tài sản chung và nợ chung: Hiện tại chị Đậu Thị L chưa yêu cầu Tòa án giải quyết, anh Cao Xuân T cũng chưa có ý kiến gì nên Tòa án chưa có cơ sở xem xét. Các đương sự có quyền khởi kiện khi có yêu cầu.

. Về án phí: Chị Đậu Thị L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a, c khoản 1 Điều 37, khoản 1 Điều 207, khoản 1 Điều 228, Điều 469 và khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 122, Điều 123 và Điều 127 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Đậu Thị L.

[1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Đậu Thị L được ly hôn với anh Cao Xuân T.

[2] Về con chung: Giao cháu Cao Thị PN, sinh ngày 23/11/2017 cho chị Đậu Thị L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu PN đủ 18 tuổi. Người không trực tiếp nuôi con chung có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Đậu Thị L không yêu cầu và anh Cao Xuân T cũng chưa có ý kiến nên Tòa án chưa xem xét.

[3] Về tài sản chung, nợ chung của vợ chồng: Các đương sự có quyền khởi kiện khi có yêu cầu.

[4] Về án phí sơ thẩm: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; buộc chị Đậu Thị L phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) số tiền tạm ứng đã nộp tại Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Nghệ An theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0012232 ngày 19/10/2022.

[5] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn như sau:

Chị Đậu Thị L có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Anh Cao Xuân T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật./.

Cỡ chữ