vanban.org

Bản án 03/2023/HNGĐ-ST — Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ

TAND tỉnh Nam Định Tuyên án 10/02/2023 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Tuyết N;

Xác nhận Cháu Trần Xuân T, sinh ngày 27-01-2022 là con đẻ của ông Trần L, sinh năm 1951; Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật các đương sự phải đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền để đăng ký khai sinh cho Cháu Trần Xuân T theo đúng quy định của pháp luật; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp về xác định cha cho con"
  • Tòa quyết gì? Chấp yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Tuyết N;
  • Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 10-02-2023
V/v: Tranh chấp về xác định cha cho con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Bạch Tuyết

Các Hội thẩm:

Ông Trần Văn Quang

Ông Trần Trọng Đại

- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Xuân Sơn - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nam Đ

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Bà Đặng Thị Phương Nhung - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 02 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Nam Đ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 59/2022/TLST- HNGĐ ngày 15 tháng 11 năm 2022 về việc “Tranh chấp về xác định cha cho con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2023/QĐST-HNGĐ ngày 01-02-2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Tuyết N; sinh năm 1994; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Xã Mong T A, huyện Châu T, tỉnh Kiên G; nơi ở hiện nay: Số 1A, Hồ Thị N, phường Vĩnh H, thành phố Rạch G, tỉnh Kiên G (có đơn xin vắng mặt).

- Bị đơn: Ông Trần L; sinh năm 1951; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Phố DRAZDANSKA 37 40502 DECIN 16 CZE Cộng hòa S; nơi ở hiện nay: Xóm 15 (nay là xóm Trừng U), xã Giao A, huyện Giao T, tỉnh Nam Đ (có đơn xin vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Mai Thanh Đ; sinh năm 1990; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở hiện nay: Xã Mong T A, huyện Châu T, tỉnh Kiên G (có đơn xin vắng mặt).

2. Cháu Trần Xuân T; sinh ngày 27-01-2022

Người đại diện hợp pháp của Cháu Trần Xuân T: Chị Nguyễn Thị Tuyết N (là mẹ đẻ); nơi ở hiện nay: Số 1A, Hồ Thị N, phường Vĩnh H, thành phố Rạch G, tỉnh Kiên G.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Tuyết N trình bày:

Chị và Anh Mai Thanh Đ kết hôn năm 2012, có 01 con chung là cháu Mai Hoàng V, sinh ngày 05-02-2012. Do quá trình chung sống phát sinh nhiều mâu thuẫn vợ chồng chị đã sống ly thân nhiều năm. Trong thời gian ly thân với anh Điền, chị đã có quan hệ tình cảm với ông Trần L sinh năm 1951; định cư ở Cộng hòa S, về ở tạm trú tại: Xóm 15, xã Giao A, huyện Giao T, tỉnh Nam Đ và có với nhau 01 con chung tên là Trần Xuân T, sinh ngày 27-01-2022.

Theo kết quả xét nghiệm ADN ngày 06-8-2022 tại Công ty Dịch vụ khoa học kỹ thuật NOVAGEN đã kết luận ông Trần L và Cháu Trần Xuân T có quan hệ huyết thống cha - con. Vì vậy chị làm đơn khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết, xác định ông Trần L là cha của Cháu Trần Xuân T. Vì điều kiện sức khỏe và đường sá xa xôi, chị xin được giải quyết vắng mặt và cam kết không khiếu nại, thắc mắc gì.

Tại bản tự khai ngày 13-01-2023 bị đơn là ông Trần L trình bày: Ông và chị Nguyễn Thị Tuyết N quen biết nhau từ năm 2020 có quan hệ tình cảm với nhau và sinh ra Cháu Trần Xuân T vào ngày 27-01-2022, ông nhất trí với kết quả xét nghiệm ngày 06-8-2022 của Công ty Dịch vụ khoa học kỹ thuật NOVAGEN đã kết luận ông và Cháu Trần Xuân T có quan hệ huyết thống cha - con. Ông nhất trí với đề nghị của chị Nguyễn Thị Tuyết N yêu cầu Tòa án xác định ông là cha của Cháu Trần Xuân T, sinh ngày 27-01-2022.

Quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án Anh Mai Thanh Đ là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày: Anh và chị Nguyễn Thị Tuyết N có quan hệ vợ chồng và có với nhau 01 con chung tên là Mai Hoàng V, nhưng quá trình chung sống phát sinh nhiều mâu thuẫn vợ chồng đã sống ly thân từ lâu, trong thời gian vợ chồng sống ly thân anh có biết về việc chị Nguyễn Thị Tuyết N có quan hệ tình cảm với người khác và đã có với họ 01 con trai. Tuy nhiên, do vợ chồng anh và chị Nhi đã không còn tình cảm, sống ly thân nhau từ lâu, nên anh không có ý kiến gì về việc chị Nhi có con với người khác, anh đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt anh và cam kết không khiếu nại, thắc mắc gì.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Đ có quan điểm: Thẩm phán, Hội đồng xét xử chấp hành đầy đủ và đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự, các đương sự được thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình. Về nội dung: Căn cứ kết quả xét nghiệm ngày 06-8-2022 của Công ty Dịch vụ khoa học kỹ thuật NOVAGEN đã kết luận ông Trần L và Cháu Trần Xuân T có quan hệ huyết thống cha - con, phù hợp với việc ông Trần L thừa nhận có quan hệ tình cảm với chị Nhi và có con chung. Vì vậy, đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Tuyết N, xác định ông Trần L là cha của Cháu Trần Xuân T, sinh ngày 27-01-2022.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Các đương sự không có điều kiện tham gia phiên tòa đã có đơn xin xét xử vắng mặt, vì vậy Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Căn cứ kết quả xét nghiệm ngày 06-8-2022 của Công ty Dịch vụ khoa học kỹ thuật NOVAGEN đã kết luận ông Trần L và Cháu Trần Xuân T có quan hệ huyết thống cha - con, phù hợp với lời khai của ông Trần L và chị Nguyễn Thị Tuyết N đều thừa nhận hai người đã có quan hệ tình cảm với nhau trong thời gian chị Nguyễn Thị Tuyết N mâu thuẫn sống ly thân với Anh Mai Thanh Đ và mang thai Cháu Trần Xuân T, ngay từ thời điểm chị Nguyễn Thị Tuyết N mang thai, ông Lâm và chị Nhi cũng đã cùng nhau tiến hành xét nghiệm AND trước sinh vào ngày 01-9-2021 kết quả xét nghiệm trước sinh cũng xác định ông Trần L là người cha sinh học của bào thai của chị Nguyễn Thị Tuyết N. Vì vậy, có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Tuyết N và lời khai tại Tòa án của ông Trần L, xác định ông Trần L là cha của Cháu Trần Xuân T, sinh ngày 27-01-2022 như quan điểm đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Đ tại phiên tòa.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của chị Nhi được Tòa án chấp nhận nên ông Trần L phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 4 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 1 Điều 228, Điều 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự,

1. Chấp yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Tuyết N;

2. Xác nhận Cháu Trần Xuân T, sinh ngày 27-01-2022 là con đẻ của ông Trần L, sinh năm 1951;

Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật các đương sự phải đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền để đăng ký khai sinh cho Cháu Trần Xuân T theo đúng quy định của pháp luật;

3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 12, khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí,

Ông Trần L phải nộp 300.000đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm;

Ông Trần L, chị Nguyễn Thị Tuyết N, Anh Mai Thanh Đ được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì các đương sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ