vanban.org

Bản án 03/2023/DSPT — Dân sự

TAND tỉnh Bình Thuận Tuyên án 09/01/2023 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 09/01/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nh n yêu cầu h i iện của nguyên đơn ông Huỳnh Văn T, bà Lê Thị Kim Q đối với bị đơn bà Nguyễn Thị P, ông Hoàng Trọng N về tranh chấp nghĩa vụ thanh toán.

Buộc bà Nguyễn Thị P, ông Hoàng Trọng N có trách nhiệm liên đới thanh toán cho ông Huỳnh Văn T, bà Lê Thị Kim Q số tiền 529.325.700 đồng (Năm trăm hai mưới chín triệu ba trăm hai mươi lăm ngàn bảy trăm đồng), trong đó nợ gốc 453.000.000 đồng (Bốn trăm năm mươi ba triệu đồng), nợ lãi tính đến ngày t … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng mua bán"
  • Tòa quyết gì? Chấp nh n yêu cầu h i iện của nguyên đơn ông Huỳnh Văn T, bà Lê Thị Kim Q đối với bị đơn bà Nguyễn Thị P, ông Hoàng Trọng N về tranh chấp nghĩa vụ thanh toán.
  • Căn cứ chính? Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2023/DS-PT
Ngày: 09/01/2023
V/v: Tranh chấp nghĩa vụ
thanh toán

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA N NH N D N TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Thanh Hòa

Các Thẩm phán:

Ông Nguyễn Văn Thành

Ông Trần Phước Hiệu

- Thư ký phiên tòa: Ông Thanh Lê Anh Tuấn- Thư Tòa án nhân dân t nh Bình Thu n.

- Đ i di n Vi n Ki m sát nhân dân t nh Bình Thu n tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Dương - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 01 năm 2023 t i trụ s Tòa án nhân dân t nh Bình Thu n t ử phúc thẩm công hai vụ án dân sự thụ l số 119/2022/TLPT-DS ngày 16 tháng 11 năm 2022, về việc “Tranh chấp nghĩa vụ thanh toán”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số 52/2022/DS-ST ngày 30 tháng 8 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Đ bị háng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra t ử phúc thẩm số 13/2022/QĐ-PT ngày 23 tháng 02 năm 2022; Quyết định hoãn phiên tòa số 163/2022/QĐ-PT ngày 08 tháng 12 năm 2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lê Thị Kim Q, sinh năm 1967 và ông Huỳnh Văn T, sinh năm 1966; Cùng nơi cư trú: Số 162 đường 3/2, hu phố 5, thị trấn Đ, huyện L, t nh Bình Thu n.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn bà Lê Thị Kim Q: Ông Huỳnh Văn T, sinh năm 1966; Nơi cư trú: Số 162 đường 3/2, hu phố 5, thị trấn Đ, huyện L, t nh Bình Thu n là người đ i diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 14/4/2022).

- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1981 và ông Hoàng Trọng N, sinh năm 1975; Cùng nơi cư trú: Tổ 1, thôn 10, ã Đ, huyện L, t nh Bình Thu n.

Người kháng cáo: Bị đơn bà Nguyễn Thị P.

NỘI DUNG VỤ N:

Theo bản án sơ thẩm thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lời trình bày của phía nguyên đơn: Ông Huỳnh Văn T và bà Lê Thị Kim Q là vợ chồng, có inh doanh thức ăn gia súc. Bà Nguyễn Thị P, ông Hoàng Trọng N chăn nuôi heo nên thường uyên mua thức ăn gia súc chỗ ông T, bà Q từ lâu. Những năm đầu bà P, ông N mua thức ăn gia súc đều có trả tiền nhưng hông đầy đủ nên số nợ dồn l i cho đến ngày 07/01/2019 còn l i là 427.875.000 đồng. Từ thời điểm này, bà P, ông N tiếp tục mua thức ăn gia súc cho đến ngày 22/5/2019 thì nợ thêm số tiền 37.955.000 đồng. Sau đó, ông N, bà P tiếp tục mua thức ăn gia súc đến ngày 05/9/2019 thì nợ thêm số tiền 67.340.000 đồng. Tổng cộng số nợ đến ngày 05/9/2019 là 533.170.000 đồng. Ông N, bà P lúc đó có trả được cho ông T, bà Q 80.000.000 đồng, vì v y số nợ được làm tròn còn 453.000.000 đồng.

Tuy nhiên, sau đó, ông N, bà P hông trả được thêm số tiền nợ nào cho ông T, bà Q, mặc dù ông T, bà Q thường uyên yêu cầu trả nợ. Ngày 21/12/2020, bà P ghi trong sổ nợ của ông T, bà Q là thừa nh n có nợ tiền cám số tiền 453.000.000 đồng, cam ết sẽ trả dần một năm 50.000.000 đồng, đây ch là

iến của bà P. Ông T, bà Q hông có iến gì nhưng thực tế bà P, ông N cũng hông thực hiện được việc này.

T i đơn h i iện, ông T, bà Q buộc bà Nguyễn Thị P và ông Hoàng Trọng N phải thanh toán cho ông T, bà Q số tiền mua thức ăn gia súc còn nợ 788.084.000 đồng (Bảy trăm tám mươi tám triệu hông trăm tám mươi bốn nghìn đồng), trong đó gồm: Tiền gốc 453.000.000 đồng; Tiền lãi tính trên 453.000.000 đồng t m tính từ ngày 22/5/2019 đến nay (44 tháng 20 ngày) theo mức lãi suất 1,66%/tháng là 335.084.000 đồng.

* T i bản tự hai, ông T trình bày, giữa hai bên hông thỏa thu n việc sẽ tính lãi đối với số tiền nợ là 453.000.000 đồng, nhưng ông N, bà P đã vi ph m việc thanh toán tiền nợ cho ông T, bà Q từ ngày 05/9/2019 cho đến nay, do đó, ông T, bà Q h i iện t i Tòa án yêu cầu giải quyết như sau: Buộc bà Nguyễn Thị P, ông Hoàng Trọng N phải thanh toán cho ông T, bà Q số tiền mua thức ăn gia súc còn nợ là 577.076.700 đồng (Năm trăm bảy mươi bảy triệu hông trăm bảy mươi sáu nghìn bảy trăm đồng), trong đó gồm: Tiền gốc 453.000.000 đồng; Tiền lãi tính trên 453.000.000 đồng từ ngày 06/9/2019 đến ngày 06/6/2022 (33 tháng) theo mức lãi suất 0,83%/tháng là: 453.000.000 đồng 33 tháng 0,83%/tháng = 124.076.700 đồng.

Ông T hông yêu cầu tính bất cứ hoản lãi nào hác.

* T i bản trình bày iến ngày 30/8/2022, ông T yêu cầu bà Nguyễn Thị P, ông Hoàng Trọng N phải thanh toán cho vợ chồng ông T, bà Q số tiền mua thức ăn gia súc còn nợ 584.238.000 đồng (Năm trăm tám mươi bốn triệu hai trăm ba mươi tám nghìn đồng), trong đó gồm:

+ Tiền gốc 453.000.000 đồng.

+ Tiền lãi tính trên 453.000.000 đồng tính từ ngày 06/9/2019 đến ngày 30/8/2022 (35 tháng 23 ngày) theo mức lãi suất 0,83%/tháng: 453.000.000 đồng x 35 tháng 23 ngày (1.073 ngày) x 0,83%/tháng (0,027%/ngày) = 131.238.630 đồng. Làm tròn là 131.238.000 đồng.

Ông T hông yêu cầu tính bất cứ hoản lãi nào hác.

Bị đơn bà Nguyễn Thị P trình bày tại văn bản ghi ý kiến ngày 21/6/2022 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án: bà Nguyễn Thị P thống nhất vợ chồng bà còn nợ chưa thanh toán cho ông T, bà Q số tiền mua thức ăn chăn nuôi là 453.000.000 đồng. Đồng trả số tiền này nhưng yêu cầu được trả dần theo hướng 50.000.000 đồng/năm. Về yêu cầu tính lãi của nguyên đơn, bị đơn không có iến.

T i phiên họp giao nộp, tiếp c n, công hai chứng cứ, bị đơn bà P trình bày: Bà P và ông Hoàng Trọng N là vợ chồng. Vợ chồng ông, bà có chăn nuôi heo nên thường uyên mua thức ăn gia súc t i cửa hàng của bà Lê Thị Kim Q, ông Huỳnh Văn T từ năm 2008 đến nay. Cũng có nhiều lần bà P, ông N nợ tiền thức ăn gia súc nhưng rồi cũng có trả được một ít. Sau đó, do làm ăn hông được tốt nên bà P, ông N hông thể trả thêm nợ cho ông T, bà Q. Đến ngày 22/5/2019, bà P, ông N nh n được tiền hỗ trợ dịch tả Châu Phi được 80.000.000 đồng nên trả nợ cho ông T, bà Q, còn nợ l i ông T, bà Q số tiền 453.000.000 đồng. Bà P, ông N đồng trả cho ông T, bà Q số tiền nợ mua thức ăn gia súc là 453.000.000 đồng, nhưng yêu cầu được trả dần theo hướng 50.000.000 đồng/năm. Về tiền lãi, bà P, ông N hông đồng trả.

- Bị đơn ông Hoàng Trọng N đã được Toà án thông báo tham gia tố tụng, tống đ t các văn bản tố tụng nhưng ông N hông đến Toà án làm việc, hông có yêu cầu phản tố nào, hông cung cấp chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 52/2022/DS-ST ngày 30 tháng 8 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Đ đã quyết định:

Căn cứ vào các Điều 26, 35, 92, 144, 147, 227, 228, 271, 273 Bộ lu t Tố tụng Dân sự năm 2015;

Các Điều 351, 352, 353, 357, 466, 468 của Bộ lu t Dân sự năm 2015;

Điều 37 Lu t hôn nhân và gia đình năm 2014;

Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp lu t về lãi, lãi suất, ph t vi ph m;

Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội hóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản l và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nh n yêu cầu h i iện của nguyên đơn ông Huỳnh Văn T, bà Lê Thị Kim Q đối với bị đơn bà Nguyễn Thị P, ông Hoàng Trọng N về tranh chấp nghĩa vụ thanh toán.

Buộc bà Nguyễn Thị P, ông Hoàng Trọng N có trách nhiệm liên đới thanh toán cho ông Huỳnh Văn T, bà Lê Thị Kim Q số tiền 584.238.000 đồng (Năm trăm tám mươi bốn triệu hai trăm ba mươi tám nghìn đồng), trong đó nợ gốc 453.000.000 đồng (Bốn trăm năm mươi ba triệu đồng), nợ lãi tính đến ngày t ử sơ thẩm ngày 30/8/2022 là 131.238.000 đồng (Một trăm ba mươi mốt triệu hai trăm ba mươi tám nghìn đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến hi thi hành án ong tất cả các hoản tiền, bên phải thi hành án còn phải chịu hoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định t i Điều 357, Điều 468 Bộ lu t Dân sự 2015.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Bà Nguyễn Thị P, ông Hoàng Trọng N phải chịu 27.369.500 đồng (Hai mươi bảy triệu ba trăm sáu mươi chín nghìn năm trăm đồng).

- Trả l i cho ông Huỳnh Văn T, bà Lê Thị Kim Q toàn bộ số tiền t m ứng án phí 17.762.000 (Mười bảy triệu bảy trăm sáu mươi hai nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0009347 ngày 20 tháng 4 năm 2022 của Chi cục thi hành án Dân sự huyện Đ, t nh Bình Thu n.

Ngày 13 tháng 9 năm 2022, bị đơn bà Nguyễn Thị P háng cáo yêu cầu tính l i lãi suất thực tế theo thời gian ể từ ngày hai bên chốt sổ và hông còn giao dịch nữa.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Người háng cáo giữ nguyên yêu cầu háng cáo và yêu cầu tính l i vì do dịch tả Châu Phi nên dẫn đến việc đàn heo của gia đình bà phải bị tiêu hủy đó là sư iện bất hả háng nên đề nghị chia đôi mỗi bên phải chịu ½ thiệt h i nên gia đình bà ch phải trả ½ số tiền cám còn nợ chưa thanh toán, đồng thời hông tính lãi suất ch m trả.

- Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu h i iện.

- Kiểm sát viên phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:

+ Về tố tụng: tòa án cấp phúc thẩm đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp lu t trong quá trình giải quyết vụ án.

T i cấp sơ thẩm hông có Kiểm sát viên tham gia phiên tòa vì theo quy định t i hoản 2 Điều 21 Bộ lu t Tố tụng dân sự thì “Viện iểm sát tham gia phiên tòa sơ thẩm đối với những vụ án do Tòa án tiến hành thu th p chứng cứ hoặc đối tượng tranh chấp là tài sản công, lợi ích công cộng, quyền sử dụng đất, nhà hoặc có đương sự là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị h n chế năng lực hành vi dân sự, người có hó hăn trong nh n thức, làm chủ hành vi hoặc trường hợp quy định t i hoản 2 Điều 4 của Bộ lu t này”. Trong vụ án Tòa án hông tiến hành thi th p chứng cứ nên Kiểm sát viên hông tham gia phiên tòa là phù hợp quy định của pháp lu t.

+ Về nội dung: Hai bên đều thừa trong quá trình làm ăn gia đình bà P mua cám chăn nuôi heo còn thiếu tiền cám của vợ chồng ông T, bà Q tổng số tiền 453.000.000 đồng. Vì v y, nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải thanh toán số tiền còn l i chưa trả là có căn cứ để chấp nh n.

T i phiên tòa bà P cho rằng việc bà hông thanh toán tiền cám còn nợ cho ông T, bà Q là do sự iện bất hả háng (dịch tả Châu Phi nên phải tiêu hủy đàn heo) nên bà yêu cầu mỗi bên phải chịu ½ thiệt h i nhưng bà P hông cung cấp được hợp đồng thỏa thu n giữa 02 bên cũng như các chứng cứ, tài liệu thể hiện nội dung thỏa thu n trên nên hông có căn cứ chấp nh n.

Lãi suất nguyên đơn yêu cầu lãi suất ch m trả là 10%/năm là có căn cứ để chấp nh n.

Thời gian tính lãi suất ch m trả theo như nội dung thể hiện trong sổ ghi ch p của nguyên đơn hông thể hiện ngày trả nợ cuối cùng. Vì v y, căn cứ vào nội dung ghi trong sổ của nguyên đôn thể hiện ngày 21/12/2020 ác định còn nợ số tiền cám chưa thanh toán là 453.000.000 đồng và hẹn mỗi năm trả 50.000.000 đồng nhưng bị đơn hông thực hiện theo cam ết thì ác định đó là ngày chốt nợ để làm căn cứ tính lãi ch m trả. Do đó, lãi suất ch m trả được tính từ ngày 22/12/2020 đến ngày t ử sơ thẩm là 30/8/2022, lãi suất 10%/năm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA N:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra t i phiên tòa phúc thẩm; trên cơ s em t đầy đủ, toàn diện các tài liệu, chứng cứ,

iến trình bày và tranh lu n t i phiên tòa của các đương sự, iến của Kiểm sát viên, Hội đồng t ử nh n thấy:

[1] Về tố tụng: Đơn háng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị P làm trong thời h n lu t định, nộp t m ứng án phí đúng thời gian quy định. Nội dung háng cáo nằm trong ph m vi bản án sơ thẩm nên được em t theo thủ tục phúc thẩm.

Bị đơn ông Hoàng Trọng N đã được Tòa án triệu t p hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt, nên Hội đồng t ử căn cứ Điều 296 Bộ lu t tố tụng dân sự, vẫn tiến hành t ử

[2] X t háng cáo của bị đơn sửa án của cấp sơ thẩm về việc tính lãi suất, Hội đồng t ử thấy:

[2.1] Về tố tụng, quan hệ pháp lu t: Bản án dân sự sơ thẩm số 52/2022/DSST ngày 30/8/2022 của Tòa án nhân dân huyện Đ đã ác định đúng quan hệ pháp lu t, đưa đầy đủ những người tham gia tố tụng. Các đương sự đã được thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ lu t Tố tụng dân sự.

[2.2] Về nội dung háng cáo của bị đơn, Hội đồng t ử thấy:

[2.2.1] Các bên đều thừa nh n vợ chồng ông Hoàng Trọng N và bà Nguyễn Thị P có chăn nuôi heo nên thường uyên mua thức ăn gia súc t i cửa hàng của bà Lê Thị Kim Q, ông Huỳnh Văn T từ năm 2008 đến nay. Trong quá trình mua bán thức ăn gia súc thì vợ chồng bà P, ông N có trả tiền nhưng thường hông trả hết (trả gối đầu). Sau đó, do làm ăn hông được tốt nên bà P, ông N không thể trả nợ cho ông T, bà Q nữa, ngày trả nợ cuối cùng là ngày 22/5/2019. Hai bên đều thống nhất số tiền cám còn l i vợ chồng ông N, bà P chưa thanh toán cho vợ chồng bà Q, ông T số tiền 453.000.000 đồng. Như v y, nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải thanh toán số tiền còn l i chưa trả là 453.000.000 đồng là phù hợp với quy định của pháp lu t nên có căn cứ để chấp nh n.

[2.2.2] T i phiên tòa phúc thẩm bà Nguyễn Thị P cho rằng giao dịch mua bán cám giữa bà và vợ chồng ông T, bà Q là quan hệ tranh chấp inh doanh thương m i, đều vì mục đích lợi nhu n. Ông T, bà Q là người cung cấp thực phẩm và gia đình bà đầu tư chuồng tr i, chăn nuôi nên hi phát sinh dịch bệnh (dịch tả Châu Phi) dẫn đến việc đàn heo của gia đình bà bị tiêu hủy là do sự iện bất hả háng nên 02 bên đều phải chịu rủi ro nên mỗi bên phải chịu ½ thiệt h i. Vì v y, bà ch chấp nh n thanh toán cho vợ chồng ông T, bà Q ½ số tiền cám còn nợ (453.000.000 : 2 = 226.500.000 đồng) và hông phải chịu lãi ch m thanh toán. Nhưng t i phiên tòa bà P hông cung cấp được tài liệu, chứng cứ hoặc hợp đồng về nội dung thỏa thu n như trên. Do đó, yêu cầu của bà Nguyễn Thị P hông phù hợp với quy định của pháp lu n nên hông có căn cứ để chấp nh n.

[2.2.3] Nghĩa vụ trả tiền: Trong quá trình tố tụng, mặc dù ông Hoàng Trọng N hông đến tòa án làm việc và hông có iến gửi đến Tòa án, nhưng căn cứ vào nội dung giấy ghi nợ, cùng với việc bà P thừa nh n vợ chồng bà P, ông N có nợ ông T, bà Q tiền thức ăn gia súc phục vụ cho nhu cầu chăn nuôi heo của vợ chồng bà P, ông N là 453.000.000 đồng, từ đó có căn cứ ác định đây là hoản nợ chung của vợ chồng bà P, ông N. Do đó, có đủ cơ s để buộc ông Nam phải liên đới nghĩa vụ với bà Phượng trả số tiền còn thiếu cho vợ chồng bà Q, ông T là phù hợp với các Điều 27 và 37 lu t Hôn nhân gia đình năm 2014.

[2.2.4] Về lãi suất: Nguyên đơn yêu cầu tính lãi suất ch m thanh toán là 10%/năm là phù hợp với quy định của pháp lu t nên có căn cứ đẻ chấp nh n.

[2.2.5] Thời gian tính lãi ch m thanh toán:

Bà Phượng thừa nh n sau hi được nh n hỗ trợ dịch tả Châu Phi 80.000.000 đồng nên trả nợ cho ông T, bà Q, còn nợ l i ông T, bà Q số tiền 453.000.000 đồng. Theo như ông T trình bày, sau hi trả được 80.000.000 đồng, số tiền nợ còn l i là 453.000.000 đồng, bà P, ông N hông trả thêm được hoản tiền nào.

Như v y, cấp sơ thẩm ác định căn cứ theo lời bà P trình bày thì từ ngày 22/5/2019 đến nay, bà P, ông N hông thanh toán được hoản tiền nào cho ông T, bà Q nên đã vi ph m nghĩa vụ thanh toán từ ngày 22/5/2019. Đồng thời, nh n định ngày cuối cùng ghi chốt nợ là ngày 05/9/2019, sau đó hông phát sinh thêm việc ghi hoản nợ nào hác, thì ngày chốt nợ là ngày 05/9/2019, là không phù hợp. B i lẽ, trong quá trình mua bán 02 bên mặc dù hông có thỏa thu n riêng về việc trả gối đầu nhưng căn cứ sổ theo dõi công nợ của vợ chồng bà Q, ông T đối với vợ chồng bà P cũng như lời hai t i phiên tòa thì sau mỗi hoản ghi nợ đều có chữ của bà P chốt số nợ, nếu trả tiền thì ghi ngày trả và số tiền trả, đồng thời ết số tiền còn nợ; sau đó nếu phát sinh thêm ghi tương tự như trên.

Mặt hác, ông T, bà Q cũng thừa nh n sau ngày 22/5/2019 vợ chồng bà đã nhiều lần yêu cầu vợ chồng bà P thanh toán số tiền còn l i nhưng vợ chồng bà Phượng hông thực hiện và từ ngày 22/5/2019 đến ngày 05/9/2019 thì hai bên vẫn còn giao dịch mua bán cám với nhau. Đồng thời, trong sổ ghi ch p của ông T, bà Q cũng hông thể hiện ngày trả nợ cuối cùng trong sổ.

Ngày 21/12/2020, bà P ghi trong sổ nợ của ông T, bà Q là thừa nh n có nợ tiền cám số tiền 453.000.000 đồng, cam ết sẽ trả dần một năm 50.000.000 đồng. Đến ngày 13/12/2021, bà Nguyễn Thị P cũng đã ác nh n l i số tiền cám còn nợ của vợ chồng bà Q, ông T trong sổ nợ của bà Q, ông T. Việc ông T cho rằng đây là chí của cá nhân bà P hông được sự đồng của vợ chồng ông là hông có căn cứ vì đây là sổ theo dõi công nợ của vợ chồng ông giữ nếu bà P ghi hông đúng nội dung, chí của mình thì có thể yêu cầu bà P ác nh n l i hoặc vợ chồng ông có thể ghi iến của mình và yêu cầu phía bà P

ác nh n.

Như v y, có đủ cơ s ác định ngày chốt nợ và chấm dứt quan hệ mua bán qua l i từ ngày 21/12/2020. Yêu cầu trả tiền lãi của nguyên đơn ông T, bà Q đối với bà P, ông N phải tính từ ngày 22/12/2020 đến ngày 30/8/2022 ( t ử sơ thẩm) trên số tiền 453.000.000 đồng còn l i chưa thanh toán, theo mức lãi suất 0,83%/tháng, theo quy định t i Điều 357, Điều 468 Bộ lu t Dân sự năm 2015. Số tiền lãi phải trả là: 453.000.000 đồng x (20 tháng 09 ngày) x 0,83%/tháng = 76.325.700 đồng.

[3] Từ phân tích trên, có đủ căn cứ để chấp nh n yêu cầu h i iện của ông Huỳnh Văn T và bà Nguyễn Thị Kim Q buộc vợ chồng ông Hoàng Trọng N và bà Nguyễn Thị P phải trả số tiền cám còn nợ là 453.000.000 đồng và tiền lãi phát sinh do ch m thanh toán từ ngày 22/12/2020 đến ngày 30/8/2022 là 76.325.700 đồng. Do đó, cần chấp nh n yêu cầu háng cáo của bà P sửa bản án sơ thẩm.

[4] Đề nghị của Kiểm sát viên t i phiên tòa phúc thẩm là phù hợp với nh n định của Hội đồng t ử nên được chấp nh n, sửa án sơ thẩm

[6] Về án phí:

[6.1] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do sửa bản án sơ thẩm, nên án phí được tính l i như sau: Bà P và ông N phải chịu án phí trên số tiền mà ông T, bà Q yêu cầu được Tòa án chấp nh n, số tiền án phí phải nộp trên tổng số tiền 529.325.700 đồng.

[6.2] Án phí dân sự phúc thẩm: Kháng cáo của bà P được chấp nh n nên không phải chịu án phí phúc thẩm theo quy đinh.

Các quyết định hác của bản án dân sự sơ thẩm hông bị háng cáo, háng nghị có hiệu lực pháp lu t ể từ ngày hết thời h n háng cáo, háng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Điều 300 và hoản 1 Điều 309 Bộ lu t Tố tụng dân sự; Chấp nh n yêu cầu háng cáo của bà Nguyễn Thị Phượng. Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số: 52/2021/DS-ST ngày 30/8/2022 của Tòa án nhân dân huyện Đức Linh.

Căn cứ vào các Điều 26, 35, 92, 144, 147, 227, 228, 271, 273 Bộ lu t Tố tụng Dân sự năm 2015;

Các Điều 351, 352, 353, 357, 466, 468 của Bộ lu t Dân sự năm 2015;

Điều 37 Lu t hôn nhân và gia đình năm 2014;

Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp lu t về lãi, lãi suất, ph t vi ph m;

Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội hóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản l và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nh n yêu cầu h i iện của nguyên đơn ông Huỳnh Văn T, bà Lê Thị Kim Q đối với bị đơn bà Nguyễn Thị P, ông Hoàng Trọng N về tranh chấp nghĩa vụ thanh toán.

Buộc bà Nguyễn Thị P, ông Hoàng Trọng N có trách nhiệm liên đới thanh toán cho ông Huỳnh Văn T, bà Lê Thị Kim Q số tiền 529.325.700 đồng (Năm trăm hai mưới chín triệu ba trăm hai mươi lăm ngàn bảy trăm đồng), trong đó nợ gốc 453.000.000 đồng (Bốn trăm năm mươi ba triệu đồng), nợ lãi tính đến ngày t ử sơ thẩm ngày 30/8/2022 là 76.325.700 đồng (Bảy mươi sáu triệu ba trăm hai mươi lăm ngàn bảy trăm đồng ).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc vợ chồng bà Nguyễn Thị P, ông Hoàng Trọng N phải liên đới nộp 25.173.000 đồng (hai mươi lăm triệu một trăm bảy mươi ba ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Hoàn l i cho ông Huỳnh Văn T, bà Lê Thị Kim Q toàn bộ số tiền t m ứng án phí 17.762.000 (Mười bảy triệu bảy trăm sáu mươi hai nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0009347 ngày 20 tháng 4 năm 2022 của Chi cục thi hành án Dân sự huyện Đ, t nh Bình Thu n.

3. Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị P không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn l i cho bà Nguyễn Thị P số tiền 300.000 đồng t m ứng án phí theo biên lai số 0012411 ngày 13 tháng 9 năm 202 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định t i Điều 2 của Lu t thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa Th n thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định t i các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Lu t thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định t i Điều 30 của Lu t thi hành án dân sự.

Các quyết định hác của bản án dân sự sơ thẩm hông bị háng cáo, háng nghị có hiệu lực pháp lu t ể từ ngày hết thời h n háng cáo, háng nghị.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực ể từ ngày tuyên án. Nơi nh n:

THAY MẶT HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

- VKSND t nh Bình Thu n;

THẨM PH N – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- TAND huyện Tánh Linh;

- VKSND huyện Tánh Linh;

- Chi cục THADS huyện Tánh Linh;

- Các đương sự;

- Lưu: hồ sơ, TDS;

Vũ Thị Thanh Hòa

Cỡ chữ