- Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Bùi thị Nam - Vũ thị Hồng Ngát"
- Tòa quyết gì? Nghị định 144/2006/CP ngày 2711/2006 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường.
- Căn cứ chính? Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG H TỈNH B | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 03/2023/DS - ST Ngày: 09/01/2023 V/v “Tranh chấp hụi” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT N
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG H, TỈNH B
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Như Ý.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Minh Hoàng.
2. Ông Lê Văn Lil.
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Mộng Nghi là thư ký Tòa án nhân dân huyện Đông H, tỉnh B.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông H tham gia phiên toà: Ông Trần Đăng Khoa - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 01 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông H xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 347/2022/TLST – DS, ngày 09 tháng 11 năm 2022 về việc “Tranh chấp hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 178/2022/QĐXX-ST ngày 01 tháng 12 năm 2022 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Bùi Thị N, sinh năm 1971;
Địa chỉ: Ấp L, xã Đ, huyện Đông H, tỉnh B.
Bị đơn: Bà Vũ Thị Hồng N1, sinh năm 1976;
Ông Nguyễn Thành T, sinh năm 1972;
Cùng địa chỉ: Ấp T, xã L, huyện Đông H, tỉnh B.
(Bà N có đơn đề nghị vắng mặt; bà N1, ông T vắng lần thứ hai).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 14/9/2022 cùng các lời khai trong quá trình tố tụng nguyên đơn bà Bùi Thị N trình bày:
Trước đây bà có tham gia hụi do bà N1 làm chủ, loại hụi 2.000.000đ, khui ngày 15/8/2017, dây hụi có 30 chưng, bà đóng được tới kỳ khui thứ 22 thì bể hụi. Khi giao dịch thì không có làm giấy tờ gì, sau khi bể hụi bà N1 còn nợ bà số tiền 44.000.000đ (số tiền vốn hụi đã đóng bao nhiêu thì bà không nhớ). Sau đó bà có nhiều lần đòi nợ thì bà N1 có trả cho bà được số tiền 9.800.000đ, nên còn nợ lại bà số tiền 34.200.000đ. Sau đó, bà có mua thịt bò của bà N1 và bà N1 có trả thêm cho bà tổng cộng là 1.950.000đ. Nay bà xác định bà N1 còn nợ bà số tiền 32.250.000đ, bà yêu cầu bà N1 và ông T cùng có trách nhiệm giao trả số tiền này cho bà.
Tại biên bản ghi lời khai ngày 06/01/2023 bà N thay đổi yêu cầu khởi kiện, ông chỉ yêu cầu bà Vũ Thị Hồng N1 và ông Nguyễn Văn T giao trả số tiền hụi còn thiếu là 11.100.000đ.
Bà Vũ Thị Hồng N1 trình bày: Trước đây bà N có tham gia hụi do bà làm chủ, loại hụi 2.000.000đ khui ngày 15/8/2017, dây hụi có 30 chưng, bà N tham gia 01 chưng, đóng được 12 lần thì hụi bể. Bà N đóng 12 lần bằng số tiền 24.000.000đ. Bà thống nhất còn nợ lại bà N số tiền 24.000.000đ, trừ tiền đầu thảo 1.200.000đ , có trả cho bà N số tiền 9.800.000đ và bà N có mua tiền thịt bò và bà trả thêm cho bà N 1.900.000đ, còn lại 11.100.000đ. Nay bà xác định bà còn nợ bà N số tiền 11.100.000đ nên chỉ đồng ý giao trả số tiền 11.100.000đ. Số tiền thu việc từ việc làm đầu thảo hụi thì chị sử dụng để lắp hụi, chứ không phục vụ cho sinh hoạt trong gia đình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông H, tỉnh B phát biểu quan điểm cho rằng: Quá trình thụ lý giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định Luật tố tụng dân sự; nguyên đơn và bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật.
Về nội dung vụ án:
Căn cứ vào khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 471 Bộ luật dân sự 2015; Nghị định 144/2006/CP ngày 2711/2006 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Thị N đối với bà Vũ Thị Hồng N1 và ông Nguyễn Thành T.
Buộc bà Vũ Thị Hồng N1 và ông Nguyễn Thành T có trách nhiệm giao trả cho bà Bùi Thị N số tiền 11.100.000 đồng.
Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Bà Bùi Thị N không phải nộp án phí. Số tiền tạm ứng án phí 835.000 đồng bà N đã nộp tạm ứng theo biên lai thu số 0009624 ngày 09/11/2022 được hoàn lại đủ. Bà Vũ Thị Hồng N1 và ông Nguyễn Thành T phải nộp án phí số tiền: 11.100.000đ x 5% = 555.000 đồng. Các đương sự nộp và nhận tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông H, tỉnh B.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông H về tuân theo pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về tố tụng:
Bà Bùi Thị N khởi kiện yêu cầu bà Vũ Thị Hồng N1 và ông Nguyễn Thành T giao trả tiền hụi còn thiếu. Bà N1 và ông T có địa chỉ cư trú tại xã Long Điền Tây, huyện Đông H, tỉnh B. Căn cứ vào khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đông H, tỉnh B.
Về nội dung: Xét yêu cầu của bà Bùi Thị N yêu cầu bà Vũ Thị Hồng N1 và ông Nguyễn Thành T giao trả số tiền hụi còn thiếu là 11.100.000đ. Đây là tranh chấp về giao dịch hụi được quy định tại Điều 471 và 479 Bộ luật dân sự 2005, nên khi phát sinh tranh chấp được Bộ luật này điều chỉnh.
Bà N yêu cầu bà N1 và ông T giao trả số tiền hụi còn thiếu là 11.100.000đ. Bà N1 thừa nhận có nợ của bà N số tiền 11.100.000đ và đồng ý giao trả. Căn cứ vào khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự công nhận đây là sự thật, không cần phải chứng minh.
Do khoản nợ phát sinh trong thời kỳ hôn nhân giữa bà N1 và ông T, nên cần buộc ông T cùng có trách nhiệm với bà N1 giao trả tiền cho bà N là phù hợp.
. Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Bà Bùi Thị N không phải nộp án phí. Số tiền tạm ứng án phí 835.000 đồng bà N đã nộp tạm ứng theo biên lai thu số 0009624 ngày 09/11/2022 được hoàn lại đủ. Bà Vũ Thị Hồng N1 và ông Nguyễn Thành T phải nộp án phí số tiền: 11.100.000đ x 5% = 555.000 đồng. Các đương sự nộp và nhận tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông H, tỉnh B.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 471 Bộ luật dân sự 2015.
Nghị định 144/2006/CP ngày 2711/2006 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường.
Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Thị N đối với bà Vũ Thị Hồng N1 và ông Nguyễn Thành T.
Buộc bà Vũ Thị Hồng N1 và ông Nguyễn Thành T có trách nhiệm giao trả cho bà Bùi Thị N số tiền 11.100.000 đồng.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Bà Bùi Thị N không phải nộp án phí. Số tiền tạm ứng án phí 835.000 đồng bà N đã nộp tạm ứng theo biên lai thu số 0009624 ngày 09/11/2022 được hoàn lại đủ. Bà Vũ Thị Hồng N1 và ông Nguyễn Thành T phải nộp án phí số tiền 555.000 đồng. Các đương sự nộp và nhận tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông H, tỉnh B.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất cơ bản do ngân hàng nhà nước quy định tương ứng với thời gian chưa thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử công khai, các đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
| Nơi nhận: - TAND tỉnh B; - VKSND huyện Đông H; - Chi Cục THA.DS huyện Đông H; - Các đương sự; - Lưu. | Lê Thị Nhƣ Ý |