vanban.org

Bản án 03/2023/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đào Ánh H đối với bà Nguyễn Thị Ngọc T về việc tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản”.

Buộc bà Nguyễn Thị Ngọc T có trách nhiệm trả cho bà Đào Ánh H và ông Hồng Anh D số tiền 35.810.000 đồng – Ba mươi lăm triệu tám trăm mười ngàn đồng. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, bên có nghĩa vụ chậm thi hành sẽ phải… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "BÀ H YÊU CẦU BÀ T TRẢ TIỀN VAY"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đào Ánh H đối với bà Nguyễn Thị Ngọc T về việc tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 186 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐỨC HÒA
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2023/DS-ST
Ngày: 05 - 01 - 2023
V/v tranh chấp
“Hợp đồng vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Thảnh

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Trần Thị Đổi

Bà Nguyễn Thị Rạt

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Huỳnh Như – là Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Mai – Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 01 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 773/2022/TLST-DS ngày 29 tháng 11 năm 2022 về việc “Hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 380/2022/QĐXXST-DS ngày 22 tháng 12 năm 2022 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Đào Ánh H, sinh năm 1978. (có mặt)

Địa chỉ: Ấp 1, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An

2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Ngọc T, sinh năm 1966. (có mặt)

Địa chỉ: Ấp 1, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Hồng Anh D, sinh năm 1970.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Đào Ánh H, sinh năm 1978 (có mặt)

Cùng địa chỉ: Ấp 1, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 18/11/2022, những lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn bà Đào Ánh H trình bày như sau:

Ngày 27/10/2021, vợ chồng bà (bà và ông Hồng Anh D) có cho bà Nguyễn Thị Ngọc T mượn số tiền 50.000.000 đồng. Việc cho vay có làm “Giấy mượn tiền” ngày 27/10/2021, thời hạn trả 06 tháng, thỏa Tận miệng lãi suất là 6%/tháng. Sau khi vay, bà T trả lãi cho bà đều đặn mỗi tháng cho đến tháng 03/2022 và ngưng từ tháng 4/2022 đến nay. Đến hạn trả nợ gốc, bà T không thanh toán, cố tình né tránh cho đến nay.

Do bà T đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên bà khởi kiện yêu cầu ông bà Nguyễn Thị Ngọc T thanh toán cho vợ chồng bà số tiền vay là 50.000.000 đồng, bà không yêu cầu lãi suất.

Ngoài ra, không còn yêu cầu gì khác, không yêu cầu chủ thể khác cùng có trách nhiệm liên đới.

Bà xác nhận tháng 10/2022 bà có nhận của bà T số tiền 20.000.000 đồng nhưng đây là tiền lãi trên số tiền 50.000.000 đồng từ tháng 04/2022 đến tháng 10/2022; không phải là tiền gốc như bà T trình bày, nên bà vẫn giữ yêu cầu bà T trả số tiền 50.000.000 đồng.

Tại phiên tòa, bà Đào Ánh H thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện, cụ thể bà H đồng ý khấu trừ tiền lãi phát sinh từ tháng 04/2022 đến tháng 10/2022 theo mức lãi suất của quy đinh pháp luật là 20%/năm vào số tiền 20.000.000 đồng, bà yêu cầu bà T trả cho bà và ông D số tiền là 35.810.000 đồng, yêu cầu bà T trả một lần, không đồng ý trả dần.

Bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc T trình bày trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa: Bà xác nhận có ký “Giấy mượn tiền” ngày 27/10/2021 với vợ chồng bà H, ông D để mượn số tiền 50.000.000 đồng; lãi suất thỏa Tận miệng là 8%/tháng. Sau khi vay tiền bà trả lãi mỗi tháng cho vợ chồng bà H được đến tháng 03/2022, thì ngưng từ tháng 4/2022, đến tháng 10/2022 bà có trả được cho vợ chồng bà H số tiền gốc là 20.000.000 đồng. Nay bà chỉ còn nợ bà H, ông D số tiền 30.000.000 đồng nên bà chỉ đồng ý trả số tiền 30.000.000 đồng. Do bà mượn tiền này để cho người khác mượn nên bà sẽ trả số tiền này khi bà đòi được tiền nợ từ người khác.

Tại phiên tòa, bà Nguyễn Thị Ngọc T đồng ý khấu trừ tiền lãi phát sinh từ tháng 04/2022 đến tháng 10/2022 theo mức lãi suất của quy đinh pháp luật là 20%/năm vào số tiền 20.000.000 đồng, cụ thể bà đồng ý trả cho bà H và ông D số tiền là 35.810.000 đồng; đồng thời bà đề nghị được trả dần số tiền còn nợ mỗi tháng 500.000 đồng.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Hồng Anh D do bà Đào Ánh H đại diện trình bày: Ông Hồng Anh D và bà Đào Ánh H là vợ chồng, ông thống nhất với yêu cầu khởi kiện và lời trình bày của bà Đào Ánh H.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa phát biểu quan điểm như sau:

Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm xét xử vụ án, những người tiến hành tố tụng và đương sự đã tuân thủ đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Căn cứ vào hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, thấy rằng, nguyên đơn và bị đơn thống nhất được số tiền vay bị đơn có trách nhiệm trả cho nguyên đơn là 35.810.000 đồng nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận. Về phương thức thanh toán: bị đơn đề nghị trả dần mỗi tháng 500.000 đồng, việc này không được nguyên đơn đồng ý nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 463, 466 Bộ luật Dân sự 2015 buộc bà Nguyễn Thị Ngọc T có trách nhiệm thanh toán cho bà Đào Ánh H và ông Hồng Anh D số tiền 35.810.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Tòa, căn cứ các kết quả xét hỏi tại phiên tòa, Tòa án nhận định:

. Về tố tụng:

Bà Đào Ánh H khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Thị Ngọc T trả tiền vay. Quan hệ tranh chấp là tranh chấp hợp đồng vay tài sản theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc T có hộ khẩu thường trú tại ấp 1, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An và có mặt tại địa phương nên Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

. Về nội dung:

. Bà H và bà T có lời trình bày thống nhất về việc ký Giấy mượn tiền ngày 27/10/2021 với số tiền 50.000.000 đồng và tháng 10/2022, bà H có nhận từ bà T số tiền 20.000.000 đồng nên nên đây được xem là tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự.

. Bà T trình bày số tiền 20.000.000 đồng trả vào tháng 10/2022 là tiền gốc trong khi bà H cho rằng đây là tiền lãi từ tháng 04/2022 đến tháng 10/2022; bà H không xuất trình được chứng cứ thể hiện số tiền 20 triệu đồng là tiền lãi; bà T cũng không xuất trình được chứng cứ chứng minh số tiền 20.000.000 đồng là tiền gốc. Mặt khác, lãi suất tối đa của số tiền 50.000.000 đồng theo Điều 468 BLDS 2015 từ tháng 04/2022 đến tháng 10/2022 vẫn thấp hơn so với số tiền 20.000.000 đồng, cụ thể số tiền lãi suất tối đa phát sinh là 07 tháng x 1.66%/tháng (tương đương 20%/năm) x 50.000.000 đồng = 5.810.000 đồng.

Tại phiên tòa, bà H và bà T đồng ý khấu trừ số tiền lãi 5.810.000 đồng vào số tiền 20.000.000 đồng và thống nhất số tiền vay còn lại chưa trả là 50.000.000 đồng – 14.190.000 đồng = 35.810.000 đồng, bà H và bà T thống nhất số tiền bà T có trách nhiệm thanh toán cho bà H và ông D là 35.810.000 đồng nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Về lãi suất: Đối với lãi suất từ tháng 10/2022 đến nay, bà H và ông D (do bà H đại diện) xác định không yêu cầu lãi suất nên Hội đồng xét xử không xem xét. Đối với số tiền lãi bà T đã thanh toán cho bà H đến tháng 03/2022, bà T không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

. Bà Nguyễn Thị Ngọc T đề nghị trả dần số tiền 35.810.000 đồng mỗi tháng 500.000 đồng, bà H và ông D (do bà H đại diện theo ủy quyền) không đồng ý với phương thức thanh toán do bà T đề nghị. Do đó để đảm bảo quyền lợi cho bà H và ông D cần buộc bà T có nghĩa vụ trả cho bà H và ông D một lần số tiền còn nợ.

Từ những phân tích trên, xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 463, 466 Bộ luật Dân sự năm 2015.

. Xét quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận

. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Ngọc T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức T, miễn, giảm, T, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 147, 186, 273, 227 và 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 357, 463, 466, 468 Bộ luật Dân sự 2015;

Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức T, miễn, giảm, T, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đào Ánh H đối với bà Nguyễn Thị Ngọc T về việc tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản”.

Buộc bà Nguyễn Thị Ngọc T có trách nhiệm trả cho bà Đào Ánh H và ông Hồng Anh D số tiền 35.810.000 đồng – Ba mươi lăm triệu tám trăm mười ngàn đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, bên có nghĩa vụ chậm thi hành sẽ phải chịu thêm khoản tiền lãi tính trên số tiền chậm trả theo quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13 tương ứng với thời gian chưa thi hành án, trừ trường hợp các bên có thỏa Tận khác hoặc pháp luật có quy định khác.

2. Về án phí:

Bà Nguyễn Thị Ngọc T phải nộp 1.790.500 đồng án phí dân sự sơ thẩm sung Ngân sách Nhà nước

Hoàn lại cho bà Đào Ánh H số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.250.000đồng theo biên lai T số 0007370 ngày 23/11/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hòa.

3. Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm và tuyên án công khai, đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

4. Về quyền thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa Tận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Đương sự;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

- TAND tỉnh Long An;

- VKSND huyện Đức Hòa;

- Chi cục THADS huyện Đức Hòa;

- Lưu hồ sơ, VT.

Trần Thị Kim Thảnh

Hướng dẫn sử dụng mẫu số 52-DS:

Mẫu bản án sơ thẩm kèm theo bản hướng dẫn này được soạn thảo theo tinh thần quy định tại Điều 266 của Bộ luật tố tụng dân sự. Mẫu bản án sơ thẩm kèm theo hướng dẫn này được sử dụng cho tất cả các Toà án khi xét xử sơ thẩm các tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động.

Sau đây là những hướng dẫn cụ thể về việc sử dụng mẫu bản án sơ thẩm kèm theo:

(1) Nếu là Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố Tộc tỉnh thì ghi rõ tên Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố Tộc tỉnh, thành phố trực Tộc trung ương nào (ví dụ: Toà án nhân dân huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội); nếu là Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực Tộc trung ương thì ghi Toà án nhân dân tỉnh (thành phố) đó (ví dụ: Toà án nhân dân tỉnh Hà Nam).

(2) Ô thứ nhất ghi số bản án, ô thứ hai ghi năm ra bản án, ô thứ ba ghi ký hiệu loại bản án (ví dụ: Nếu là bản án giải quyết tranh chấp về dân sự năm 2017 có số 100 thì ghi: “Số:100/2017/DS-ST”; nếu là bản án giải quyết tranh chấp về hôn nhân và gia đình năm 2017 có số 108 thì ghi: “Số:108/2017/HNGĐ-ST”; nếu là bản án giải quyết tranh chấp về kinh doanh, thương mại năm 2017 có số 110 thì ghi: “Số:110/2017/KDTM-ST”; nếu là bản án giải quyết tranh chấp về lao động năm 2017 có số 115 thì ghi: “Số:115/2017/LĐ-ST”).

(3) Ghi ngày, tháng, năm tuyên án không phân biệt vụ án được xét xử sơ thẩm và kết thúc trong một ngày hay được xét xử sơ thẩm trong nhiều ngày.

(4) Ghi quan hệ tranh chấp mà Tòa án giải quyết: Cần xác định tranh chấp mà Tòa án thụ lý giải quyết được quy định tại Điều, khoản nào của Bộ luật tố tụng dân sự, để ghi vào phần trích yếu của bản án (ví dụ: Tranh chấp mà Tòa án thụ lý giải quyết là tranh chấp về quốc tịch Việt Nam giữa cá nhân với cá nhân được quy định tại khoản 1 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự thì ghi: “tranh chấp về quốc tịch Việt Nam giữa cá nhân với cá nhân”).

(5) Ghi như hướng dẫn tại điểm (1).

(6) Nếu Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm ba người, thì chỉ ghi họ tên của Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà, bỏ dòng “Thẩm phán...”, đối với Hội thẩm nhân dân chỉ ghi họ tên của hai Hội thẩm nhân dân; nếu Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có năm người, thì ghi họ tên của Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà, họ tên của Thẩm phán, họ tên của cả ba Hội thẩm nhân dân. Cần chú ý là không ghi chức vụ của Thẩm phán; chức vụ, nghề nghiệp của Hội thẩm nhân dân.

(7) Ghi họ tên của Thư ký phiên tòa và ghi rõ là Thư ký Tòa án hoặc Thẩm tra viên của Tòa án nào như hướng dẫn tại điểm (1).

(8) Nếu có Viện kiểm sát nhân dân tham gia phiên toà thì ghi như hướng dẫn tại điểm (1) song đổi các chữ “Toà án nhân dân” thành “Viện kiểm sát nhân dân”.

(9) Trường hợp vụ án được xét xử và kết thúc trong một ngày thì bỏ hai chữ “Trong các” (ví dụ: Ngày 15 tháng 7 năm 2017). Trường hợp vụ án được xét xử trong hai ngày thì ghi “Trong các ngày” (ví dụ: Trong các ngày 02, 03 tháng 3 năm 2017); nếu từ ba ngày trở lên mà liền nhau thì ghi: “Từ ngày đến ngày” (ví dụ: Từ ngày 06 đến ngày 10 tháng 3 năm 2017); nếu từ ba ngày trở lên mà không liền nhau thì ghi trong các ngày (ví dụ: Trong các ngày 07, 08 và ngày 15 tháng 3 năm 2017); nếu khác tháng mà liền nhau thì ghi từ ngày... tháng... đến ngày... tháng... (ví dụ: Từ ngày 31 tháng 05 đến ngày 02 tháng 6 năm 2017); nếu không liền nhau thì ghi các ngày của từng tháng (Ví dụ: Trong các ngày 30, 31 tháng 3 và các ngày 04, 05 tháng 4 năm 2017).

(10) Nếu xét xử kín thì thay cụm từ “công khai” bằng từ “kín”.

(11) Ô thứ nhất ghi số thụ lý, ô thứ hai ghi năm thụ lý và ô thứ ba nếu là tranh chấp về dân sự thì ghi “DS”; nếu là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thì ghi “HNGĐ”; nếu là tranh chấp về kinh doanh, thương mại thì ghi “KDTM”; nếu là tranh chấp về lao động thì ghi “LĐ” (ví dụ: số 18/2017/TLST-HNGĐ).

(12) Ghi như hướng dẫn tại điểm (4).

(13) Nguyên đơn là cá nhân thì ghi họ tên, địa chỉ cư trú (nếu là người chưa thành niên thì sau họ tên ghi ngày, tháng, năm sinh và họ tên người đại diện hợp pháp của người chưa thành niên). Nguyên đơn là cơ quan, tổ chức thì ghi tên cơ quan, tổ chức và địa chỉ của cơ quan, tổ chức đó.

(14) Chỉ ghi khi có người đại diện hợp pháp của nguyên đơn và ghi họ tên, địa chỉ cư trú; ghi rõ là người đại diện theo pháp luật hay là người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn; nếu là người đại diện theo pháp luật thì cần ghi chú trong ngoặc đơn quan hệ giữa người đó với nguyên đơn; nếu là người đại diện theo uỷ quyền thì cần ghi chú trong ngoặc đơn: “văn bản uỷ quyền ngày... tháng... năm...”.

Ví dụ 1: Ông Nguyễn Văn A trú tại... là người đại diện theo pháp luật của nguyên đơn (Giám đốc Công ty TNHH Thắng Lợi).

Ví dụ 2: Bà Lê Thị B trú tại... là người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn (Văn bản uỷ quyền ngày... tháng... năm...).

(15) Chỉ ghi khi có người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn. Ghi họ tên, địa chỉ cư trú (nếu là Luật sư thì ghi là Luật sư của Văn phòng luật sư nào và Tộc Đoàn luật sư nào); nếu có nhiều nguyên đơn thì ghi cụ thể bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn nào.

(16) và (19) Ghi tương tự như hướng dẫn tại điểm (13).

(17) và (20) Ghi tương tự như hướng dẫn tại điểm (14).

(18) và (21) Ghi tương tự như hướng dẫn tại điểm (15).

(22) Ghi họ tên, địa chỉ cư trú (nếu là người chưa thành niên thì sau họ tên ghi ngày, tháng, năm sinh và họ tên người đại diện hợp pháp của người chưa thành niên).

(23) Ghi họ tên, chức danh, địa chỉ nơi làm việc (nếu không có nơi làm việc thì ghi địa chỉ cư trú).

(24) Ghi họ tên, địa chỉ nơi làm việc (nếu không có nơi làm việc thì ghi địa chỉ cư trú).

(25) Trong phần này ghi rõ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, của cơ quan, tổ chức, cá nhân; yêu cầu phản tố, đề nghị của bị đơn; yêu cầu độc lập, đề nghị của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; ý kiến của Viện kiểm sát; ghi ngắn gọn, đầy đủ các tài liệu, chứng cứ, tình tiết của vụ án; ghi rõ các tình tiết, sự kiện không phải chứng minh, các tình tiết mà các bên đã thống nhất, không thống nhất; đối với các tình tiết của vụ án mà các bên không thống nhất thì phải ghi rõ lý lẽ, lập luận của từng bên đương sự.

(26) Ghi nhận định của Tòa án về những vấn đề cần phải giải quyết trong vụ án (về áp dụng pháp luật tố tụng và pháp luật nội dung). Tòa án phải căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa để phân tích, đánh giá, nhận định đầy đủ, khách quan về chứng cứ và những tình tiết của vụ án; phân tích, viện dẫn những căn cứ pháp luật, án lệ (nếu có) để chấp nhận hoặc không chấp nhận yêu cầu, đề nghị của đương sự; yêu cầu, đề nghị của cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác (nếu có); yêu cầu, đề nghị của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát (nếu có); giải quyết các vấn đề khác có liên quan. Nếu vụ án Tộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 4 của Bộ luật tố tụng dân sự thì tùy từng trường hợp mà Tòa án phân tích, lập luận về việc áp dụng tập quán, tương tự pháp luật, nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, án lệ hoặc lẽ công bằng.

Trong phần này, các đoạn văn được đánh số thứ tự trong dấu [ ].

(27) Tùy từng trường hợp mà ghi rõ các căn cứ pháp luật để ra quyết định.

(28) Ghi các quyết định của Tòa án về từng vấn đề phải giải quyết trong vụ án, về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo đối với bản án; trường hợp có quyết định phải thi hành ngay thì phải ghi rõ quyết định đó. Đối với trường hợp xét xử sơ thẩm lại vụ án mà bản án, quyết định đã bị hủy một phần hoặc toàn bộ theo quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm thì ghi vấn đề tài sản, nghĩa vụ đã được thi hành (nếu có) theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật nhưng bị hủy; trường hợp có quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 482 của Bộ luật tố tụng dân sự thì phải ghi rõ nội dung về quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu thi hành án.

(29) Phần cuối cùng của bản án, đối với bản án được thông qua tại phòng nghị án thì phải có đầy đủ chữ ký, ghi rõ họ tên của các thành viên Hội đồng xét xử và đóng dấu (bản án này phải lưu vào hồ sơ vụ án); đối với bản án để gửi cho các đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện và Viện kiểm sát thì ghi như sau:

Cỡ chữ