vanban.org

Bản án 03/2022/KDTM-ST — Tranh chấp về đầu tư tài chính, ngân hàng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.

Luật thi hành án dân sự. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện Công ty cổ phần TDTTVN. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về đầu tư tài chính, ngân hàng — án kinh doanh thương mại — "Công ty CP TDTT Việt Nam - Công ty TNHH Đầu tư và Kinh doanh bất động sản Khu Đông"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 121 Bộ luật Dân sự; Điều 127 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:03/2022 /KDTM-ST.
Ngày: 06/01/2022.
V/v: Tranh chấp hợp đồng đầu tư.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Phương Thảo

- Các hội thẩm nhân dân: Ông Bùi long Hòa

Ông Nguyễn Tiến Thanh

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Bình - Cán bộ Tòa án nhân dân quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa tham gia phiên tòa: Bà Phạm Hà Thanh - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 01 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 32/2020/TLST-KDTM ngày 10/03/2020 về “Tranh chấp hợp đồng đầu tư”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 200/2021/QĐXX-ST ngày 17 tháng 11 năm 2021, giữa:

- Nguyên đơn: Công ty cổ phần TDTTVN; Địa chỉ: số 04 Hàng Cháo, phường Cát Linh, quận Đống Đa, Hà Nội; Đại diện theo pháp luật: ông Phạm Quang Anh – Tổng giám đốc; Đại diện theo ủy quyền: Bà Trịnh Minh Hằng theo giấy ủy quyền ngày 30/09/2020; Bà Dương Thị Thu Hường theo giấy ủy quyền ngày 24/09/2020. Có mặt bà Hằng.

- Bị đơn: Công ty TNHH đầu tư và kinh doanh bất động sản Khu Đ; Địa chỉ: Tầng 3, Tòa nhà An Phú Plaza, 117-119 Lý Chính Thắng, phường Võ Thị Sáu, quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh; Đại diện theo pháp luật: Ông Đặng Nam Phong - Chủ tịch Hội đồng thành viên; Đại diện theo ủy quyền: Bà Đàm Thị Huyền theo giấy ủy quyền ngày 19/11/2021. Vắng mặt.

-Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Công ty TNHH bất động sản An Phú – Hoàng Gia ; Địa chỉ: Tầng 16 Tòa nhà VID 1 số 115 Trần Hưng Đạo, phường Cửa Nam, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội; Đại diện theo pháp luật : Ông Nguyễn Hồng Ngọc – Chủ tịch Hội đồng thành viên. Vắng mặt.

Së kÕ ho¹ch vµ ®Çu t thµnh phè Hµ Néi ; Địa chỉ: Tòa nhà B10 A, Nguyễn Chánh, Khu đô thị Nam Trung Yên, Cầu Giấy, Hà Nội. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện đề ngày 16/04/2019 và các đơn bổ sung cũng như các văn bản tại Tòa án, nguyên đơn là Công ty cổ phần TDTTVN(VINASPORT) trình bày như sau:

Công ty cổ phần TDTTVN có dự án đầu tư xây dựng tại khu đất 181 Nguyễn Huy Tưởng cần tìm đối tác để hợp tác đầu tư.

Ngày 27/12/2012, VINASPORT đã ký Hợp đồng hợp tác và kinh doanh số 51/HĐ-HTĐT với Công ty cổ phần tập đoàn Vina Megastar (“MEGASTAR”) để triển khai dự án ở 181 Nguyễn Huy Tưởng.

Do việc hợp tác với MEGASTAR không hiệu quả nên Hội đồng quản trị của VINASPORT đã chủ trương tìm đối tác đầu tư khác để thay thế MEGASTAR.

Ngày 21/6/2014, tại cuộc họp Đại hội đồng cổ đông thường niên Công ty cổ phần TDTTVN năm 2014, đại hội cổ đông đã thông qua đề xuất của Hội đồng quản trị Công ty về tiêu chí lựa chọn đối tác đầu tư để thay thế MEGASTAR.

Sau đó, Người đại diện phần vốn Nhà nước tại Công ty đã gửi Bộ Văn hoá, Thể thao, Du lịch Tờ trình số 146/TTr-CPTTVN ngày 31/10/2014 về việc lựa chọn nhà đầu tư mới thay thế Công ty cổ phần tập đoàn Vina Megastar liên doanh thực hiện tại 181 Nguyễn Huy Tưởng và Công văn số 147/CV-CPTTVN ngày 10/11/2014 đề nghị phê duyệt chủ trương lựa chọn nhà đầu tư thực hiện dự án của Công ty cổ phần TDTTVN.

Trả lời các vấn đề trên, Bộ Văn hoá, Thể thao, Du lịch đã có ý kiến chỉ đạo tại Công văn số 4326/BVHTTDL-KHTC ngày 27/11/2014 về việc triển khai dự án 181 Nguyễn Huy Tưởng, trong đó nêu rõ:

(i) Bộ chấp nhận đề xuất về việc chấm dứt hợp đồng hợp tác với MEGASTAR với yêu cầu sau khi thanh lý hợp đồng dứt điểm với Megastar thì mới tiến hành lựa chọn đối tác đầu tư tham gia dự án.

(ii) … Trước khi phê duyệt kết quả phê duyệt kết quả lựa chọn nhà đầu tư, Người đại diện phần vốn của nhà nước phải có trách nhiệm báo cáo Bộ theo đúng quy định pháp luật.

(iii) Việc thanh lý hợp đồng với Megastar và lựa chọn nhà đầu tư mới hợp tác đầu tư thực hiện dự án 181 Nguyễn Huy Tưởng và các nội dung có liên quan phải được thống nhất tại Đại hội cổ đông và Người đại diện phần vốn Nhà nước chỉ được phép biểu quyết những nội dung Bộ đã cho ý kiến bằng văn bản.

Tuy nhiên, ngày 06/12/2014, VINASPORT và KHU ĐÔNG đã ký Hợp đồng nguyên tắc về Hợp tác đầu tư số 01/HĐNTHTĐT/VINASPORT-KHUDONG.

Ngày 09/12/2014, Bộ Văn hoá, Thể thao, Du lịch tiếp tục có Công văn số 4492/BVHTTDL-KHTC yêu cầu Nguời đại diện phần vốn nhà nước tại Công ty cổ phần TDTTVN nghiêm chỉnh chấp hành ý kiến chỉ đạo của Bộ tại Công văn số 4326/BVHTTDL-KHTC ngày 27/11/2014 về việc triển khai dự án 181 Nguyễn Huy Tưởng,

Ngay sau đó, ngày 31/12/2014, VINASPORT và KHU ĐÔNG tiếp tục ký Hợp đồng Hợp tác đầu tư số 02/HĐNTHTĐT/VINASPORT-KHUDONG.

Việc Người đại diện phần vốn Nhà nước tại Công ty cổ phần TDTTVN thông qua việc ký kết Hợp đồng Hợp tác đầu tư giữa VINASPORT và KHU ĐÔNG cũng như việc thành lập Công ty TNHH Bất động sản An Phú – Hoàng Gia để thực hiện dự án 181 Nguyễn Huy Tưởng đã không thực hiện theo ý kiến chỉ đạo của Bộ Văn hoá, Thể thao, Du lịch – là chủ sở hữu vốn đầu tư nhà nước tại Công ty.

Ngay khi biết về quan hệ hợp tác đầu tư giữa VINASPORT và KHU ĐÔNG, Bộ Văn hoá Thể thao Du lịch đã chỉ đạo kiểm tra toàn diện những sai phạm của VINASPORT liên quan đến việc thực hiện dự án đầu tư xây dựng ở khu đất 181 Nguyễn Huy Tưởng, và căn cứ vào Báo cáo kết quả kiểm tra số 07/BC-TTR ngày 25/3/32016 của Thanh tra Bộ Văn hóa Thể thao Du lịch, Bộ Văn hoá Thể thao và Du lịch đã ban hành văn bản số 1028/BVHTTDL-TTr ngày 29/3/2016 về việc xử lý kiểm tra đối với các hợp đồng hợp tác đầu tư của Vinasport, trong đó chỉ đạo:

“Đối với Hơp đồng hợp tác đầu tư số 02/HĐNTHTĐT/VINASPORT-KHUDONG ngày 31/12/2014: Tiến hành làm việc với Công ty Khu Đông để chấm dứt hợp đồng, thống nhất phương án giải quyết các vấn đề tồn tại đã phát sinh trong việc thực hiện Hợp đồng theo quy định pháp luật.

Về việc thành lập Công ty TNHH Bất động sản An Phú – Hoàng Gia: làm các thủ tục thông báo về viêc không góp vốn và rút tên khỏi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp số 0106646763 do Phòng ĐKKD – sở KHĐT Hà Nội cấp ngày 24/9/2014, không còn là thành viên sáng lập Công ty này”

Sau khi có ý kiến chỉ đạo của Bộ Văn hoá Thể Thao Du lịch, VINASPORT đã nhiều lần đề nghị KHU DONG bàn bạc, thương lượng để giải quyết việc thanh lý hợp đồng hợp tác đầu tư, nhưng Công ty TNHH đầu tư và kinh doanh bất động sản Khu Đ không hợp tác.

Công ty cổ phần TDTTVN yêu cầu:

1.Tuyên vô hiệu Hợp đồng nguyên tắc về hợp tác đầu tư số 01/HĐNTHTĐT/ VINASPORT-KHUDONG ký ngày 06/12/2014 và số 02/HĐNTHTĐT/ VINASPORT-KHUDONG ký ngày 31/12/2014.

2. Yêu cầu Phòng đăng ký kinh doanh – Sở kế hoạch đầu tư thành phố Hà Nội hủy bỏ Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp đối với Công ty TNHH bất động sản An Phú –Hoàng Gia cấp lần đầu ngày 24/9/2014.

Ngày 10/12/2021, Công ty cổ phần TDTTVN rút một phần yêu cầu khởi kiện, cụ thể chỉ còn giữ lại yêu cầu : Tuyên vô hiệu Hợp đồng nguyên tắc về hợp tác đầu tư số 01/HĐNTHTĐT/ VINASPORT-KHUDONG ký ngày 06/12/2014 và số 02/HĐNTHTĐT/ VINASPORT-KHUDONG ký ngày 31/12/2014. Giữa : Công ty cổ phần TDTTVN với Công ty TNHH đầu tư và kinh doanh bất động sản Khu Đ.

*Bị đơn Công ty TNHH đầu tư và kinh doanh bất động sản Khu Đ trình bày:

Tại thời điểm ký kết Hợp đồng hợp tác đầu tư năm 2014, Vinasport là đơn vị quản lý và sử dụng khu đất có diện tích 16.012m2 tại số 181 Nguyễn Huy Tưởng, Thanh Xuân, Hà Nội (“Khu Đất”). Căn cứ vào chủ trương của UBND thành phố Hà Nội tại văn bản số 4812/UBND-CN ngày 21/07/2008 về việc di dời các cơ sở sản xuất công nghiệp gây ô nhiễm môi trường và không phù hợp với quy hoạch đô thị ra khỏi khu vực nội thành, Vinasport đã tìm kiếm nhà đầu tư và lựa hợp tác với Khu Đông để đầu tư xây dựng và khai thác dự án Trung tâm thương mại – văn phòng và chung cư cao tầng tại Khu Đất. Vì vậy, Vinasport và Khu Đông sau khi đàm phán thống nhất các nội dung hợp tác đã đi đến ký kết Hợp đồng hợp tác đầu tư để triển khai thực hiện dự án.

Hợp đồng hợp tác đầu tư được ký kết giữa Vinasport và Khu Đông là văn bản có hiệu lực theo đúng quy định của pháp luật, bởi những lý do sau:

Hợp đồng được ký kết bởi người đại diện có thẩm quyền của Khu Đông và Vinasport theo đúng quy định của pháp luật:

Theo quy định tại Điểm d Khoản 2 Điều 96 Luật doanh nghiệp năm 2005 (có hiệu lực vào thời điểm ký Hợp đồng), Đại hội đồng cổ đông có quyền “Quyết định đầu tư hoặc bán số tài sản có giá trị bằng hoặc lớn hơn 50% tổng giá trị tài sản được ghi trong báo cáo tài chính gần nhất của công ty nếu Điều lệ công ty không quy định một tỷ lệ khác”. Căn cứ vào Điều lệ và Báo cáo tài chính kiểm toán năm 2013 của Vinasport, Hợp đồng hợp tác đầu tư với Khu Đông thuộc thẩm quyền quyết định của Đại hội đồng cổ đông Vinasport. Ngày 21/6/2014, Đại hội đồng cổ đông của Vinasport đã họp thông qua Nghị quyết số 06/2014/NQ-ĐHCĐ trong đó có nội dung thông qua việc lựa chọn nhà đầu tư dự án và ủy quyền cho HĐQT liên quan đến việc ký Hợp đồng hợp tác đầu tư. Ngày 16/09/2014, Hội đồng quản trị Vinasport đã thông qua Nghị quyết số 06/2014/NQ–HĐQT về việc ký Hợp đồng hợp tác đầu tư với Khu Đông. Như vậy, Hợp đồng hợp tác đầu tư đã được phê duyệt và ký kết bởi cấp có thẩm quyền của Vinasport theo đúng quy định của pháp luật.

Đồng thời, Hợp đồng cũng được Khu Đông ký bởi người đại diện theo pháp luật theo đúng phạm vi thẩm quyền quy định tại Điều lệ và Luật doanh nghiệp.

Hợp đồng được ký kết tự nguyện bởi hai bên, không bị lừa dối, đe dọa hoặc cưỡng ép. Mục đích Hợp đồng là hợp tác thực hiện dự án theo đúng quy định của pháp luật về đầu tư và chủ trương của UBND thành phố Hà Nội tại văn bản số 4812/UBND-CN ngày 21/07/2008, không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội.

Căn cứ vào các điều từ Điều 122 đến Điều 129 Bộ luật dân sự hiện hành, một giao dịch dân sự chỉ vô hiệu khi: Chủ thể không đáp ứng điều kiện về năng lực pháp luật, năng lực hành vi dân sự; hoặc Chủ thể tham gia giao dịch không tự nguyện, bị lừa dối, đe dọa hoặc cưỡng ép; hoặc Mục đích và nội dung của giao dịch vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội; hoặc Giao dịch dân sự vi phạm quy định điều kiện có hiệu lực về hình thức, nếu có; hoặc Các bên xác lập giao dịch dân sự một cách giả tạo nhằm che giấu một giao dịch dân sự khác; hoặc Giao dịch dân sự được xác lập có sự nhầm lẫn làm cho một bên hoặc các bên không đạt được mục đích của việc xác lập giao dịch…..Việc giao kết và ký Hợp đồng hợp tác giữa Khu Đông và Vinasport được thực hiện theo đúng quy định pháp luật và không thuộc trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu như nêu trên.

Với những lý do trên, chúng tôi khẳng định Hợp đồng hợp tác đầu tư giữa Khu Đông và Vinasport là văn bản có hiệu lực pháp luật.

Đối với yêu cầu hủy bỏ Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp đối với Công ty TNHH Bất động sản An Phú – Hoàng Gia, một công ty được thành lập theo thỏa thuận hợp tác giữa Vinasport và Khu Đông chúng tôi có ý kiến như sau:

Khoản 1 Điều 211 Luật doanh nghiệp hiện hành quy định:

“1. Doanh nghiệp bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp trong các trường hợp sau đây:

a) Nội dung kê khai trong hồ sơ đăng ký doanh nghiệp là giả mạo;

b) Doanh nghiệp do những người bị cấm thành lập doanh nghiệp theo khoản 2 Điều 18 của Luật này thành lập;

c) Doanh nghiệp ngừng hoạt động kinh doanh 01 năm mà không thông báo với Cơ quan đăng ký kinh doanh và cơ quan thuế;

d) Doanh nghiệp không gửi báo cáo theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 209 của Luật này đến Cơ quan đăng ký kinh doanh trong thời hạn 06 tháng, kể từ ngày hết hạn gửi báo cáo hoặc có yêu cầu bằng văn bản;

đ) Trường hợp khác theo quyết định của Tòa án.”

Căn cứ vào quy định nêu trên, chúng tôi không thấy có bất kỳ cơ sở/lý do nào để hủy bỏ/ thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp đối với Công ty TNHH Bất động sản An Phú – Hoàng Gia.

Trong trường hợp Vinasport có nhu cầu chấm dứt Hợp đồng hợp tác đầu tư và chấm dứt hoạt động của Công ty TNHH Bất động sản An Phú – Hoàng Gia, chúng tôi sẽ xem xét quyết định trên cơ sở đàm phán thống nhất giữa hai bên.

Tại Phiên hòa giải ngày 25/09/2020, Công ty TDTT và Công ty Khu Đông đã cùng thống nhất sẽ thỏa thuận về việc chấm dứt Hợp Đồng Đầu Tư và chấm dứt hoạt động của Công ty TNHH Bất động sản An Phú – Hoàng Gia.

Đến nay, chúng tôi khẳng định tiếp tục giữ nguyên quan điểm về hiệu lực của các Văn bản, hợp đồng đã ký; đồng thời đồng ý và sẵn sàng đàm phán, thỏa thuận với Công ty TDTT để chấm dứt Hợp Đồng Đầu Tư và chấm dứt hoạt động của Công ty TNHH Bất động sản An Phú – Hoàng Gia.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án là Công ty TNHH Bất động sản An Phú – Hoàng Gia đã nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án, Công ty có gửi văn bản xin được vắng mặt tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng không gửi văn bản ghi ý kiến của mình cho Tòa án.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án là Sở kế hoạch và đầu tư Hà Nội đã nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án và đã gửi văn bản quan điểm của mình cho Tòa án, từ chối tham gia tố tụng tại phiên tòa.

*Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng không thành.

Tại phiên tòa hôm nay,

Nguyên đơn yêu cầu: Tòa án tuyên vô hiệu đối với Hợp đồng nguyên tắc về hợp tác đầu tư số 01/HĐNTHTĐT/VINASPORT-KHUDONG ký ngày 06/12/2014 và số 02/HĐNTHTĐT/VINASPORT-KHUDONG ký ngày 31/12/2014. Giữa : Công ty cổ phần TDTTVN với Công ty TNHH đầu tư và kinh doanh bất động sản Khu Đ.

Nguyên đơn rút yêu cầu: Phòng đăng ký kinh doanh – Sở kế hoạch đầu tư thành phố Hà Nội hủy bỏ Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp đối với Công ty TNHH bất động sản An Phú –Hoàng Gia cấp lần đầu ngày 24/9/2014.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa phát biểu quan điểm: về tố tụng: Thẩm phán, thư ký, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của pháp luật trong quá trình tiến hành tố tụng. Các đương sự trong vụ án tuân thủ đúng pháp luật, thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình. Về nội dung vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về án phí các đương sự phải chịu theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

I. Về áp dụng pháp luật tố tụng:

Công ty cổ phần TDTTVN được thành lập theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp và được Sở kế hoạch và đầu tư Thành phố Hà Nội cấp giấy Chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Công ty cổ phần, mã số doanh nghiệp 0100111923 đăng ký lần đầu ngày 07/08/2007, đăng ký thay đổi lần thứ 2 ngày 19/12/2017.

Công ty TNHH đầu tư và kinh doanh bất động sản Khu Đ được thành lập theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp và được Sở kế hoạch và đầu tư Thành phố Hồ Chí Minh cấp giấy Chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Công ty TNHH hai thành viên trở lên, mã số doanh nghiệp 0309344729, Đăng ký lần đầu ngày 08/09/2009, đăng ký thay đổi lần thứ 31 ngày 18/03/2021.

Công ty TNHH Bất động sản An Phú – Hoàng Gia được thành lập theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp và được Sở kế hoạch và đầu tư Thành phố Hà Nội cấp giấy Chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Công ty TNHH hai thành viên trở lên, mã số doanh nghiệp 0106646763, Đăng ký lần đầu ngày 24/09/2014.

Việc ủy quyền của các đương sự tham gia tố tụng phù hợp với quy định của pháp luật.

Tranh chấp phát sinh giữa các bên là tranh chấp về “Hợp đồng đầu tư” được quy định tại khoản 1 Điều 30 Bộ luật tố tụng dân sự. Vì vậy, Toà án nhân dân quận Đống Đa thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Giao dịch được xác lập vào năm 2014 nên các quy định của pháp luật về giao dịch dân sự, hợp đồng nên áp dụng các quy định của Bộ luật dân sự năm 2005 và các văn bản pháp luật liên quan để giải quyết.

Tại phiên tòa, bị đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt lần thứ 2. Do vậy, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt là phù hợp với quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

II.Nội dung vụ án:

Về yêu cầu khởi kiện, hợp đồng và quan hệ pháp luật phát sinh tranh chấp và pháp luật áp dụng: Công ty cổ phần TDTTVN khởi kiện yêu cầu :

1.1 - Yêu cầu Phòng đăng ký kinh doanh – Sở kế hoạch đầu tư thành phố Hà Nội hủy bỏ Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp đối với Công ty TNHH bất động sản An Phú –Hoàng Gia cấp lần đầu ngày 24/9/2014. Ngày 10/12/2021 và tại phiên tòa Công ty cổ phần TDTTVN đã rút yêu cầu khởi kiện đối với yêu cầu này là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp quy định tại điểm c khoản 1 điều 217 Bộ luật tố tụng dân sự, nên đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu này.

1.2 - Yêu cầu Tuyên vô hiệu Hợp đồng nguyên tắc về hợp tác đầu tư số 01/HĐNTHTĐT/VINASPORT-KHUDONG ký ngày 06/12/2014 và số 02/HĐNTHTĐT/VINASPORT-KHUDONG ký ngày 31/12/2014. Giữa : Công ty cổ phần TDTTVN với Công ty TNHH đầu tư và kinh doanh bất động sản Khu Đ. Xét :

* Về hình thức : Công ty cổ phần TDTTVN là Công ty cổ phần có vốn Nhà nước chiếm 51,32% Vốn điều lệ, do đó các hoạt động đầu tư, tài chính của công ty phải tuân thủ theo quy chế quản lý tài chính đối với doanh nghiệp nhà nước và người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp phải tuân thủ các quy định về trách nhiệm người đại diện khi thực hiện các quyền của cổ đông/người góp vốn tại doanh nghiệp.

Việc người đại diện phần vốn nhà nước tại Công ty cổ phần TDTTVN đã tự ý biểu quyết thông qua việc lựa chọn nhà đầu tư, ký Hợp đồng hợp tác đầu tư với Công ty TNHH đầu tư và kinh doanh bất động sản Khu Đ để ký 02 Hợp đồng hợp tác đầu tư không theo đúng ý kiến chỉ đạo của Bộ Văn hoá Thể thao Du lịch đã vượt quá phạm vi đại diện.

*Về nội dung :

Thời điểm ký 02 hợp đồng trên Công ty cổ phần TDTTVN chưa thanh lý hợp đồng dứt điểm với Megastar, chưa được thống nhất tại Đại hội cổ đông và chưa được sự đồng ý của Bộ Văn hoá Thể thao Du lịch bằng văn bản.

Bộ Văn hoá Thể thao Du lịch đã chỉ đạo kiểm tra toàn diện những sai phạm của Công ty cổ phần TDTTVN liên quan đến việc thực hiện dự án đầu tư xây dựng ở khu đất 181 Nguyễn Huy Tưởng, và căn cứ vào Báo cáo kết quả kiểm tra số 07/BC-TTR ngày 25/3/32016 của Thanh tra Bộ Văn hóa Thể thao Du lịch, Bộ Văn hoá Thể thao và Du lịch đã ban hành văn bản số 1028/BVHTTDL-TTr ngày 29/3/2016 về việc xử lý kiểm tra đối với các hợp đồng hợp tác đầu tư của Vinasport, trong đó chỉ đạo chấm dứt hợp đồng, thống nhất phương án giải quyết các vấn đề tồn tại đã phát sinh trong việc thực hiện Hợp đồng theo quy định pháp luật.

Vì vậy, căn cứ Điều 121, Điều 127, Điều 128, Điều 139, Điều 140, Điều 141, Điều 144, Điều 146, Điều 410, Điều 424 Bộ luật dân sự năm 2005 ; Điều 67 Luật đầu tư, cần xác định 02 hợp đồng trên là vô hiệu.

* Về xử lý hậu quả của hợp đồng vô hiệu.

Theo quy định của pháp luật, các bên phải trả lại cho nhau những gì đã nhận, bên có lỗi phải bồi thường.

Giữa Công ty cổ phần TDTTVN và Công ty TNHH đầu tư và kinh doanh bất động sản Khu Đ chưa thực hiện, chưa phát sinh gì.

Công ty cổ phần TDTTVN đã nhận của Công ty TNHH Bất động sản An Phú – Hoàng Gia số tiền 20.000.000.000 đồng (Hai mươi tỷ đồng) ; Ngày 12/12/2018 Công ty cổ phần TDTTVN đã chuyển trả Công ty TNHH Bất động sản An Phú – Hoàng Gia 15.400.000.000 đồng (Mười lăm tỷ, bốn trăm triệu đồng). Nay Công ty cổ phần TDTTVN còn phải hoàn trả Công ty TNHH Bất động sản An Phú – Hoàng Gia số tiền 4.600.000.000 đồng (Bốn tỷ, sáu trăm triệu đồng).

Về bồi thường thiệt hại: Hợp đồng vô hiệu lỗi do Công ty cổ phần TDTTVN. Nhưng các bên không có yêu cầu bồi thường thiệt hại nên không xét.

Về các vấn đề khác của vụ án: Ngoài các vấn đề trên, các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề nào khác.

Về án phí: Các bên đương sự phải chịu án phí đối với số tiền phải thanh toán theo quy định pháp luật.

Về quyền kháng cáo : các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 30, 35, 36, 39, 227, 228, 271, 273, 278, 280 Bộ luật tố tụng dân sự ;

Điều 67 Luật đầu tư ;

Điều 121, Điều 127, Điều 128, Điều 139, Điều 140, Điều 141, Điều 144, Điều 146, Điều 410, Điều 424 Bộ luật dân sự năm 2005;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Luật thi hành án dân sự.

Xử:

1.Chấp nhận yêu cầu khởi kiện Công ty cổ phần TDTTVN.

2.Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu Phòng đăng ký kinh doanh – Sở kế hoạch đầu tư thành phố Hà Nội hủy bỏ Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp đối với Công ty TNHH bất động sản An Phú –Hoàng Gia.

3.Xác định Hợp đồng nguyên tắc về hợp tác đầu tư số 01/HĐNTHTĐT/VINASPORT-KHUDONG ký ngày 06/12/2014 và số 02/HĐNTHTĐT/VINASPORT-KHUDONGký ngày 31/12/2014. Giữa : Công ty cổ phần TDTTVN với Công ty TNHH đầu tư và kinh doanh bất động sản Khu Đ vô hiệu.

4.Buộc Công ty cổ phần TDTTVN phải hoàn trả cho Công ty TNHH bất động sản An Phú –Hoàng Gia số tiền 4.600.000.000 đồng (Bốn tỷ, sáu trăm triệu đồng).

5.Không chấp nhận các yêu cầu khác của các bên đương sự.

6.Về án phí: Công ty cổ phần TDTTVN phải chịu 112.600.000 đồng (Một trăm mười hai triệu, sáu trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Xác nhận Công ty cổ phần TDTTVN đã nộp 3.000.000 đồng (ba triệu đồng) tiền tạm ứng án phí theo biên lai số 0014004 ngày 09/03/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Đống Đa nên còn phải nộp tiếp 109.600.000 đồng (Một trăm linh chín triệu, sáu trăm nghìn đồng).

7.Về nghĩa vụ chậm thi hành án: Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

8.Về hướng dẫn thi hành án dân sự: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

9- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ