vanban.org

Bản án 03/2022/HSST — Hình sự

TAND TP. Hải Dương, tỉnh Hải Dương Tuyên án 06/01/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Cố ý gây thương tích” và tội “ Gây rối trật tự công cộng”.

Về hình phạt chính: Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn C 30 (Ba mươi) tháng tù về tội “ Cố ý gây thương tích”, 27 (Hai mươi bảy) tháng tù về tội “ Gây rối trật tự công cộng”. Tổng hợp hình phạt của hai tội buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 04 (bốn) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngà… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Cường - cố ý gây thương tích, gây rối trật tự công cộng - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người k…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Cố ý gây thương tích” và tội “ Gây rối trật tự công cộng”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 134 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG
TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2022/HSST
Ngày: 06-01-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG, TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Khánh Thiện.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hà Thị Thúy.

Bà Phạm Thị Lan.

- Thư ký phiên toà: Bà Triệu Thị Loan - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Bà Bùi Thị Thúy- Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 182 /2021/TLST-HT ngày 01 tháng 12 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 176/2021/QĐXXST- HS ngày 23 tháng 12 năm 2021 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn C, sinh năm 1990, ĐKHKTT và chỗ ở: số 65 LVH, phường N, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn L – sinh năm 1967 và con bà Phạm Thị Đ – sinh năm 1969;

Tiền án, tiền sự: Không

Nhân thân: Bản án số 151 ngày 22/8/2006 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương xử phạt 05 năm tù về tội Cướp tài sản (thời điểm phạm tội Nguyễn Văn C chưa đủ 18 tuổi). Ra trại ngày 21/11/2009.

Bị tạm giữ từ ngày 26/6/2021 chuyển tạm giam từ ngày 02/7/2021 tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại: Anh Lê Văn Th, sinh năm 1986;

Địa chỉ : số 1/65A LVH, phường N, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương. Có mặt.

* Người làm chứng:

1. Bà Phạm Thị Đ, sinh năm 1969;

Địa chỉ: số 65 LVH, phường N, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương.

2. Anh Nguyễn Văn D, sinh năm 1984;

Địa chỉ: số 1/65B LVH, phường N, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương.

3. Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1979 ;

Địa chỉ : số 67 LVH, phường N, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương.

4. Ông Phạm Văn Đ1, sinh năm 1961 ;

Địa chỉ : 19 YL, phường N, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương.

5. Bà Phạm Thị M, sinh năm 1972 ;

Địa chỉ : Số 8 khu 17, phường N, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương.

6. Ông Lê Văn T, sinh năm 1957 ;

Địa chỉ : Khu 15, phường N, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương.

7. Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1967 ;

Địa chỉ: số 65 LVH, phường N, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương.

8. Anh Lê Văn C1, sinh năm 1982 ;

Địa chỉ : Khu 15, phường N, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương.

9. Ông Lê Văn Kh, sinh năm 1963.

Địa chỉ : 164 LVH, phường N, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương.

10. Anh Lê Văn Q, sinh năm 1994 ;

Địa chỉ : số 1/19B LVH, phường Ngọc Châu, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương.

11. Ông Lê Văn Nh, sinh năm 1963 ;

Địa chỉ : số 1/19B LVH, phường N, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương.

( Ông L có mặt tại phiên tòa, những người làm chứng khác vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 23 giờ ngày 19/6/2021 anh Nguyễn Văn D trú tại số 65 LVH, phường N, thành phố Hải Dương thấy Nguyễn Văn C có biểu hiện say rượu ở khu vực gần nhà nên anh D gọi điện thoại cho anh Lê Văn Th ở số 1/65A LVH, phường N, thành phố Hải Dương; anh Lê Văn Q ở số 1/19B LVH phường N, thành phố Hải Dương; anh Lê Văn C1 ở khu 15, phường N, thành phố Hải Dương đến để khuyên C về nhà nhưng C không về. Lúc này, mọi người giữ tay C để anh D lấy nước hắt vào mặt C đồng thời lấy khăn lau mặt để cho C tỉnh rượu rồi đưa C về nhà. Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 24/6/2021 do bực tức nhóm của anh D hắt nước vào mặt và cho rằng anh Th đã lấy của Cường số tiền 500.000 đồng nên C đã mang theo 01 con dao tự chế bằng kim loại dài khoảng 50cm, bản rộng khoảng 05cm có lưỡi cong, sắc nhọn đi sang xưởng cơ khí của anh D ở số 65 LVH, P. N, TP. Hải Dương, thấy anh D đang ngồi tại bàn uống nước, C không nói gì mà đi vào đứng đối diện với anh D rồi giơ dao chém 01 nhát theo chiều từ trên xuống dưới về phía anh D. Anh D giơ chân phải lên đỡ thì bị C chém trúng vào lòng bàn chân phải gây vết thương kích thước (4x0,1) cm. Anh D bỏ chạy vào trong nhà, khóa cửa lại còn C tiếp tục cầm dao đứng ngoài chửi anh Dự . Sau đó anh D đến Bệnh viện Quân y 7 khâu vết thương.

Sau khi chém anh D, C tiếp tục cầm dao đến nhà anh Q ở số 1/19B LVH, P. N, TP. Hải Dương. Khi đến nơi, C nhìn thấy anh Q nên đã chửi bới và dọa chém anh Q làm anh Q sợ hãi chạy vào trong nhà còn C tiếp tục đứng trước cửa chửi anh Q.

Đến khoảng 16 giờ 50 phút cùng ngày, anh Th đi làm về qua nhà anh Q và đang đứng nói chuyện với anh Q, anh C1 cùng ông Lê Văn Kh ở số 164 LVH, P. N, TP. Hải Dương thì C quay lại cầm dao xông vào chém anh Th. Anh Th nhặt 01 chiếc xẻng dài khoảng 1,2m có chuôi bằng gỗ để ngăn cản C; cả hai giằng co nhau thì anh Th bị ngã xuống đường trước cửa nhà văn hóa khu 15 phường N. C dùng dao chém 01 nhát theo chiều từ trên xuống dưới trúng vào cẳng tay trái anh Th gây vết thương kích thước (5x1)cm rồi bỏ đi. Anh Th được mọi người đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện quân y 7 Hải Dương sau chuyển điều trị tại Bệnh viện Việt Đức – Hà Nội đến ngày 30/6/2021 ra viện. Ngày 05/7/2021 anh Th có đơn yêu cầu khởi tố đối với C, ngày 25/6/2021 anh D có đơn không yêu cầu khởi tố đối với C.

Khoảng 18 giờ 15 phút ngày 26/6/2021, C đang ở nhà thì bà Phạm Thị Đ (là mẹ đẻ của C) đi làm về và mắng C về việc C dùng dao chém anh Dự, anh Th. Do C đã sử dụng ma túy tổng hợp trước đó nên C đã đạp 02 nhát vào chân bà Đ nhưng không gây thương tích rồi tiếp tục chửi bà Đ. Khoảng 18 giờ 45 phút cùng ngày, C lấy ở bếp 01 con dao phay dài 35cm, bản rộng 06cm đuổi chém bà Đ. Bà Đ bỏ chạy ra ngoài đường LVH đứng còn C cầm dao đứng trước cửa nhà, bà Đ sợ không dám về nhà thì ông Phạm Văn Đ1 (là anh trai bà Đ) đến can ngăn. C cầm dao tiếp tục đuổi để chém ông Đ1, ông Đ 1bỏ chạy khoảng 25m theo đường LVH nên C không đuổi kịp đã quay lại cầm dao đứng trước cửa nhà đe dọa những người dân trong khu vực và những người tham gia giao thông trên đường LVH. Khi lực lượng Công an phường N, thành phố Hải Dương có mặt yêu cầu C bỏ dao, không gây mất trật tự thì C không chấp hành mà tiếp tục lấy 01 chiếc gậy cao su dài 01m từ xe mô tô của lực lượng Công an phường dựng trước cửa nhà C và sử dụng dao, gậy cao su đe dọa, thách thức mọi người có mặt tại khu vực. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, Tổ công tác Đội điều tra tổng hợp Công an thành phố Hải Dương đã khống chế, bắt giữ C, thu giữ vật chứng 01 con dao phay dài 35cm, bản rộng 06cm và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung.

Tại kết luận giám định pháp y số 223a ngày 19/8/2021 của Phòng giám định pháp y – Bệnh viện đa khoa tỉnh Hải Dương kết luận: Anh Lê Văn Th bị vết thương mặt sau 1/3 dưới cẳng tay trái gây đứt gân gấp cổ tay quay dài, cơ duỗi dài ngón I, cơ duỗi chung các ngón. Hiện để lại sẹo vết thương, mổ kích thước trung bình, hạn chế gấp – duỗi cổ tay, hạn chế gấp vừa các ngón tay II, III, IV, V. Tổn thương có đặc điểm do vật sắc gây ra. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 13%.

Tại kết luận giám định pháp y số 223b ngày 19/8/2021 của Phòng giám định pháp y – Bệnh viện đa khoa tỉnh Hải Dương kết luận: Anh Nguyễn Văn D bị sẹo vết thương phần mềm vùng lòng bàn chân phải kích thước nhỏ. Tổn thương có đặc điểm do vật sắc gây ra. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 01%.

Tại bản cáo trạng số 180/CT-VKSTPHD ngày 29/11/2021, VKSND thành phố Hải Dương truy tố Nguyễn Văn C về các tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự và tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo đã thừa nhận mình có tội, bị cáo có hành vi dùng dao chém anh Th gây thương tích cho anh Th, bị cáo có hành vi dùng dao đe dọa và đuổi mẹ bị cáo và đuổi ông Đ gây ảnh hưởng đến an ninh trật tự, tuy nhiên trong cáo trạng có những tình tiết chưa đúng, bị cáo nhất trí bồi thường cho người bị hại số tiền 3.500.000 đồng. Mong Hội đồng xét xử cho bị cáo mức án thấp để được sớm trở về với gia đình và xã hội.

Anh Lê Văn Th yêu cầu bị cáo C bồi thường cho anh số tiền 3.500.000 đồng, về hình phạt đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị:

- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn C phạm các tội “Cố ý gây thương tích” và tội “Gây rối trật tự công cộng”

- Về hình phạt chính: Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm e khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 38; khoản 1 Điều 55 Bộ Luật hình sự;

- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn C từ 27 tháng đến 30 tháng tù về tội “ Cố ý gây thương tích”, 24 tháng đến 27 tháng tù về tội “ Gây rối trật tự công cộng”. Tổng hợp hình phạt của hai tội buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung từ 51 tháng đến 57 tháng tù, thời hạn tính từ ngày tạm giữ 26/6/2021.

- Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ Luật hình sự; điểm a Khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015;

+ Tịch thu tiêu hủy 01 con dao phay dài 35 cm, bản rộng 06 cm;

+ Trả lại bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung.

- Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584; Điều 585; Điều 586; Điều 590; Điều 357; Điều 468 của Bộ luật dân sự buộc bị cáo Nguyễn Văn C phải có trách nhiệm bồi thường cho anh Lê Văn Th chi phí điều trị số tiền 3.500.000 đồng.

- Về án phí: Áp dụng Luật phí và lệ phí; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 về án phí, lệ phí Toà án.

Bị cáo C phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và án phí sơ thẩm dân sự theo quy ®Þnh.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và kết quả đã được tranh tụng tại phiên toà, Tòa án nhận định như sau:

Về tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan và người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, chuẩn bị xét xử vụ án đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định tố tụng đó. Vì vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan và người tiến hành tố tụng đó thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa tương đối phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 16 giờ 50 phút ngày 24/6/2021 tại khu vực trước cửa nhà văn hóa khu 15 phường N, thành phố Hải Dương; Nguyễn Văn C dùng 01 con dao tự chế bằng kim loại dài khoảng 50cm, bản rộng khoảng 05cm có lưỡi cong, sắc nhọn chém anh Lê Văn Th gây thương tích mặt sau 1/3 dưới cẳng tay trái; tỷ lệ tổn thương cơ thể là 13%. Ngày 05/7/2021 anh Th có đơn đề nghị khởi tố đối với Cường.

Tiếp đó từ khoảng 19 giờ 20 phút đến 21 giờ ngày 26/6/2021 tại khu vực trước cửa nhà số 65 LVH, P. N, TP. Hải Dương, Nguyễn Văn C dùng 01 con dao phay dài 35cm, bản rộng 06cm đuổi dọa chém bà Phạm Thị Đ và ông Phạm Văn Đ1 sau đó đe dọa, chửi bới những người dân trong khu vực gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự công cộng.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến các quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo dùng dao tự chế gây thương tích cho anh Th, là tình tiết quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 BLHS; bị cáo cho rằng nguyên nhân là do anh Th có mâu thuẫn với bị cáo nhưng bị cáo không có căn cứ chứng minh, việc bị cáo dùng dao chém anh Th vô cớ là tình tiết quy định tại điểm i khoản 1 Điều 134 BLHS, do thương tích của anh Th là 13% nên hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự.

Hành vi của bị cáo dùng dao phay đuổi, dọa chém bà Động và ông Đăng gây náo động ở nơi công cộng đã xâm phạm đến nội quy, quy tắc, trật tự chung tại nơi công cộng làm ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội gây tâm lý hoang mang lo sợ cho quần chúng nhân dân. Do vậy hành vi của bị cáo thực hiện đã đủ yêu tố cấu thành tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự.

Do vậy Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật áp dụng là có căn cứ, đúng pháp luật.

.Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS và xử lý đối với bị cáo:

Về nhân thân: bị cáo một lần bị kết án.

Về tình tiết tăng nặng: Viện kiểm sát có quan điểm áp dụng tình tiết tăng nặng “cố tình thực hiện tội phạm đến cùng”, Hội đồng xét xử thấy hành vi bị cáo dùng kiếm tự tạo chém anh Dự tỷ lệ thương tích 01% anh D không có yêu cầu khởi tố do đó Công an thành phố Hải Dương đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp. Việc bị cáo đi tìm anh Q nhưng cũng chưa gây thương cho anh Q. Sau đó anh Th đi làm về qua nhà anh Q đứng nói chuyện thì C tiếp tục quay lại dùng dao chém anh Th vào cẳng tay trái của anh Th, khi thấy máu chảy thì C đã bỏ đi, C không hề có hành vi dùng dao chém anh Th tiếp hoặc đuổi anh Th để chém. Do vậy quan điểm của Viện kiểm sát không có căn cứ để chấp nhận.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra bị cáo thành khẩn khai báo tuy nhiên tại phiên tòa bị cáo quanh co đổ lỗi cho người bị hại và người làm chứng nhưng xét thấy bị cáo cũng thấy được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nên cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ là “thành khẩn khai báo” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.

Bị cáo có nhân thân xấu nên cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo mới đủ tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không nghề nghiệp ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo C gây thương tích cho anh Lê Văn Th tỷ lệ tổn thương do thương tích gây nên là 13 %, anh Th yêu cầu C bồi thường số tiền 3.500.000 đồng là tiền chi phí đi viện.

Đối chiếu với quy định của pháp luật cần chấp nhận các khoản sau :

- Tiền chi phí điều trị từ ngày 24/6/2021 đến ngày 30/6/2021: 3.351.177 đồng.

- Tiền chi phí điều trị khám bệnh ngày 13/7/2021: 96.300 đồng

Tổng số là : 3.447.477 đồng.

Anh Th yêu cầu bị cáo bồi thường 3.500.000 đồng, bị cáo C nhất trí nên buộc bị cáo phải thi hành.

Ngoài ra đối với các chi phí khác như: tiền ngày công lao động, chi phí bồi dưỡng sức khỏe, tổn hại tinh thần anh Th không yêu cầu bị cáo phải bồi thường nên không phải xem xét.

Về vật chứng:

Đối với con dao phay bằng kim loại màu đen, có lưỡi sắc, dài 35cm, bản rộng 06cm là công cụ phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu trắng xanh, ốp lưng màu đen, bên trong có gắn sim số thuê bao 0826631407 (mặt kính sau bị vỡ, không kiểm tra chất lượng bên trong) của bị cáo Cường cần trả lại cho bị cáo.

Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí theo luật định. Bị cáo phải bồi thường cho người bị hại nên phải chịu án phí dân sự.

Về vấn đề khác:

Đối với hành vi dùng dao chém anh Nguyễn Văn D gây thương tích 01% anh D không có đơn yêu cầu khởi tố đối với Nguyễn Văn Cg, Công an thành phố Hải Dương đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

Không có căn cứ xử lý đối với việc Cường khai bị anh Lê Văn Th lấy trộm số tiền 500.000 đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm a khoản 1 Điều 47; Điều 38; khoản 2 Điều 48; khoản 1 Điều 55 Bộ Luật hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Điều 584; Điều 585; Điều 586; Điều 590; Điều 357; Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 về án phí, lệ phí Toà án.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Cố ý gây thương tích” và tội “ Gây rối trật tự công cộng”.

2. Về hình phạt chính:

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn C 30 (Ba mươi) tháng tù về tội “ Cố ý gây thương tích”, 27 (Hai mươi bảy) tháng tù về tội “ Gây rối trật tự công cộng”. Tổng hợp hình phạt của hai tội buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 04 (bốn) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 26/6/2021.

3. Về trách nhiệm dân sự:

Buộc bị cáo Nguyễn Văn C phải bồi thường cho anh Lê Văn Th số tiền chi phí điều trị và khám chữa bệnh là 3.500.000đ.

KÓ tõ ngµy người được thi hành án có đơn yêu cầu mà người phải thi hành án không thi hành khoản tiền trên sẽ phải trả lãi đối với số tiền chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.

4. Về vật chứng:

- Tịch thu cho tiêu hủy 01 con dao phay bằng kim loại màu đen, có lưỡi sắc, dài 35cm, bản rộng 06cm là công cụ phạm tội.

- Trả lại bị cáo C 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu trắng xanh, ốp lưng màu đen, bên trong có gắn sim số thuê bao 0826631407 (mặt kính sau bị vỡ, không kiểm tra chất lượng bên trong).

Hiện trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an thành phố Hải Dương và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hải Dương.

5. Về án phí: Bị cáo C phải chịu 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự.

6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Người được thi hành án dân sự và người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại các Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ