- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Duy H phạm tội "Giết người" - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Duy H phạm tội “Giết người” và tội “Tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”, bị cáo Trần Anh S phạm tội “Che giấu tội phạm”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 03/2022/HS-ST Ngày: 12-01-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- TH1nh phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Ông Nguyễn Duy Hoài
Thẩm phán:
Ông Nguyễn Văn Bỉnh
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lương Sĩ Tư Hoài
2. Bà Trần Diệp Mỹ Dung
3. Bà Nguyễn Thị Tường Vi
- Thư ký phiên tòa: Bà Đào Thị Lương - Thư ký Tòa án Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hùng Oai - Kiểm sát viên.
Ngày 12/01/2022, tại Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 44/2021/TLST-HS ngày 11 tháng 10 năm 2021; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 304/2021/QĐXXST-HS ngày 29/12/2021 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Duy H, sinh năm 1987 tại tỉnh Thanh Hóa; nơi ĐKHKTT và cư trú: Thôn Quang Trung 1, xã G, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1960 và bà Lê Thị P, sinh năm 1963; gia đình có 02 anh em, bị cáo là con lớn nhất, nhỏ nhất sinh năm 1992; vợ, con: Chưa có; tiền án: Không.
Tiền sự:
- Quyết định số 30/QĐ-VPVPHC ngày 12/02/2018 bị Công an huyện L, tỉnh Lâm Đồng xử phạt số tiền 2.500.000đ về H1nh vi “Xâm hại đến sức khỏe của người khác”, đã chấp H1nh xong ngày 08/10/2021.
- Quyết định số 28/QĐ-VPKLBB ngày 03/3/2021 bị Công an huyện L, tỉnh Lâm Đồng ra theo thủ tục xử phạt không lập biên bản số tiền 2.500.000đ về H1nh vi “Xâm hại đến sức khỏe của người khác”, đã chấp H1nh xong vào ngày 27/7/2021.
Nhân thân:
- Quyết định số 1622/QĐ-UBND ngày 22/6/2007 bị Ủy ban nhân dân tỉnh Lâm Đồng ra Quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục, thời hạn 24 tháng, đã chấp H1nh xong vào ngày 07/4/2011;
- Bản án số 19/2013/HSST ngày 28/3/2013 bị Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 01 năm tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản” và 200.000đ tiền án phí. Hiện đã chấp H1nh xong.
Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 18/4/2021, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo H: Luật sư Nguyễn Tuấn H – Văn phòng luật sư P, Đoàn luật sư tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
2. Trần Anh S, sinh năm 1990 tại tỉnh Lâm Đồng; nơi ĐKHKTT và cư trú: Thôn 3, xã G, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: Lớp 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Đào L, sinh năm 1946 và bà Đặng Thị T, sinh năm 1953; vợ Lê Thị T, sinh năm 1995 và có 01 người con, sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Quyết định số 1452/QĐ-XPHC ngày 10/11/2006 bị Ủy ban nhân dân huyện L, tỉnh Lâm Đồng ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý H1nh chính đưa vào trường giáo dưỡng, thời hạn 24 tháng, chấp H1nh xong vào ngày 02/11/2009.
Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 18/4/2021, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
- Bị hại: Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1991; nơi cư trú: Thôn 4, xã G, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1967; nơi cư trú: Thôn 4, xã G, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
2. Bà Lê Thị P, sinh năm 1963; nơi cư trú: Thôn Quang Trung 1, xã G, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
- Người làm chứng:
1. Ông Nguyễn Công H, sinh năm 1983; nơi cư trú: Thôn Quang Trung 1, xã G, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.
2. Bà Đào Thị H1, sinh năm 1986; nơi cư trú: Thôn Quang Trung 1, xã G, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có quen biết với nhau từ trước nên khoảng 10 giờ ngày 17/4/2021, Nguyễn Duy H gọi điện thoại nhờ Trần Anh S đến nhà anh Bùi Xuân Đức, ở khu Ba Đình, thị trấn N, huyện L đón H về phòng trọ của H, ở khu chợ Thăng Long, thị trấn N, huyện L. Khi về phòng trọ cả hai ngồi chơi game, đến 14 giờ cùng ngày, H nhờ S chở ra thị trấn L, huyện Đ để H bán điện thoại, do không bán được nên cả hai cùng quay về lại phòng trọ của H. Khoảng một tiếng sau, H nói với S chở H đến nhà anh Hùng ở khu Quang Trung 1, xã G, huyện L để đòi tiền nợ, đến nơi H vào nhà của anh Hùng, còn S điều khiển xe máy về nhà.
Khoảng 18 giờ cùng ngày, S đến đón H, rồi cả 02 về lại phòng trọ. Lúc này, S ngồi ăn bún ở bên ngoài, còn H vào phòng trọ của mình lấy một khẩu súng ngắn, màu đen, ốp tay cầm bằng nhựa súng màu nâu, phần cò súng và búa đập kim loại màu vàng, kích thước 14x24,5cm, thân súng có các ký hiệu “BLOW C75”, “Cal.9 mm.P.A.K”, “B61Y2-19080249”, mua của đối tượng tên Tuấn trên mạng Youtube với giá 38.000.000đ bỏ vào túi xách đeo chéo màu đen, rồi ra ăn cùng với S. Sau khi ăn xong, S chở H đến nhà ông Tới, xong đến nhà của anh Việt ở thôn 2, xã G, huyện L nhưng cũng không gặp được anh Việt nên cả hai quay về phòng trọ của H. Trên đường về, ngang qua khu vực ngã ba ông Thống, H thấy Nguyễn Văn C, sinh năm 1991, ngụ tại thôn 4, xã G, huyện L, tỉnh Lâm Đồng cùng với bố là ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1967, đang xếp hàng lên xe ô tô của nhà xe Vạn Hạnh, đậu trước nhà anh Nguyễn Công H, sinh năm 1983, trú tại thôn Quang Trung 1, xã G, huyện L. Do trước đó có mẫu thuẫn với anh C về chuyện tiền bạc nên H nói S dừng xe lại, H đi bộ đến chỗ anh C và ông S còn S đứng ngoài đợi. Lúc này, anh C đang chui vào gầm xe xếp hàng, thì H đến chửi thề và nói với C “mày thích chết không? ra đây”, đồng thời H đưa tay vào trong túi da đeo trước ngực, tay phải cầm súng bắn một phát lên trời, sau đó giữa H và anh C lời qua tiếng lại với nhau, H dùng tay tát vào mặt C một cái. Bị đánh, C cầm xô đựng rác bằng nhựa gần đó lao vào định đánh H, thấy vậy ông S cũng lao vào phía H thì H lùi lại và bắn một phát súng xuống đất. Anh C và ông S đứng lại, rồi tiếp tục lao về phía H, H giơ súng về phía C bắn một phát làm anh C gục xuống đất và nói với ông S “Con bị dính rồi”, thì ông S cầm xô đựng rác đuổi theo H, H vừa chạy vừa bắn một phát súng nữa. Đuổi được một đoạn thì ông S quay lại chỗ C đang nằm rồi cùng một số người dân đưa C đi cấp cứu.
H chạy vào nhà của anh Hùng ở cây xăng G để mượn tiền nhưng không được. Trong lúc H đến chỗ bố con anh C, thì S đứng ngoài chứng kiến toàn bộ sự việc, khi thấy H bắn làm anh C gục xuống xong bỏ chạy, thì S chạy xe theo H, khi H từ trong nhà anh Hùng ra nhờ S chở đi Đà Lạt nên S đồng ý. Sau đó H điều khiển xe máy chở S đi, khi đến trạm xăng dầu ở làng hoa Vạn Thành, thành phố Đà Lạt, thì H mượn điện thoại của S gọi taxi đi huyện Đ còn S điều khiển xe máy về nhà ở thôn 3, xã G, huyện L.
Khi đến huyện Đ, H đón xe khách Thành Bưởi về Thành phố Hồ Chí Minh, trốn tại số 284 A Nguyễn Thị Tú, phường Bình Hưng Hòa B, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh thì bị Công an bắt giữ.
Bị hại Nguyễn Văn C bị vết thương: Thủng 02 lỗ trực tràng, cắt trực tràng 6cm làm hậu môn nhân tạo, thủng 01 lỗ bàng quang, thủng 03 lỗ ruột non, đứt tĩnh mạch chậu trái, vết thương xuyên đầu vào hố chậu trái 01 cm, đầu ra mông pH 4,5cm.
Theo Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 220/2021/TgT ngày 30/7/2021 của Trung tâm Pháp y tỉnh Lâm Đồng kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của nạn nhân Nguyễn Văn C là 75%.
Theo Bản kết luận giám định của Phòng PC09 – Công an tỉnh Lâm Đồng kết luận: Khẩu súng kích thước tổng thể 14x21,5cm gửi giám định là súng BLOW C75 cỡ nòng 09mm, thuộc vũ khí quân dụng và các vỏ đạn, đầu đạn thu được tại hiện trường được bắn ra từ khẩu súng trên.
Vật chứng thu giữ gồm:
- 01 (một) vỏ kim loại màu vàng đồng KT 1,7cm, 01 đầu có ghi số (S&B), (17); (9x19), bề mặt có chất màu xanh bám dính;
- 01 (một) vỏ kim loại màu vàng đồng KT 1,7cm, (01) đầu có ghi số (S&B), (9x19mmM), bề mặt bám dính chất màu đỏ;
- 01 (một) đầu kim loại màu vàng đồng dài 1cm, bề mặt kim loại bị bẹp lõm, mài xước;
- 01 (một) xô nhựa màu trắng bị bẹp móp, 01 (một) khẩu súng ngắn bằng kim loại, trên thân súng có ghi các chữ “BLOWC75” và “cal.g.mm.P.A.K-B61Y2-19080249”, súng có đầy đủ các bộ phận như: hộp tiếp đạn, búa đập, kim hỏa; 01 (một) túi xách da màu đen có chữ Jeep; 01 (một) dao quắm dài 65cm có cán bằng tre dài 80cm, lưỡi bằng sắt dài 35cm, phần lưỡi sắt rộng 5cm, mũi quắm; 02 (hai) đôi giày màu trắng xanh dài 30cm rộng 10cm.
Ngoài ra Cơ quan điều tra còn thu giữ một số tài sản, đồ dùng có liên quan gồm: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu xanh loại TA – 1174, số IMEI1: 352428901600194, IMEI2: 352428903600192; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter màu đỏ - trắng, biển kiểm soát 49D1 - 596.28; 01 (một) điện thoại di động Realme 5 loại cảm ứng màu tím; 01 (một) điện thoại di động cảm ứng nhãn hiệu Vivo màu xanh, đã cũ không kiểm tra chất lượng bên trong máy; 02 thẻ nhớ dung lượng 32GB micro SD, Netac màu đen; 01 (một) thẻ nhớ màu đen 32GB micro HC hiệu Samsung; 01 (một) USB nhãn hiệu Kingston dung lượng 8GB bên trong có chứa dữ liệu video camera (CH1) của cây Xăng Vạn Thành vào lúc 21 giờ 30 phút ngày 17/4/2021 video có dung lượng 37,9 MB.
Tại Cáo trạng số 42/CT-VKS-P1 ngày 07/10/2021 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng đã truy tố bị cáo Nguyễn Duy H về tội “Giết người” và tội “Tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 và khoản 1 Điều 304 của Bộ luật Hình sự năm 2015; bị cáo Trần Anh S về tội “Che giấu tội phạm” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 389 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng giữ nguyên bản cáo trạng đã truy tố; đề nghị tuyên bố bị cáo Nguyễn Duy H phạm tội “Giết người” và tội “Tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”; bị cáo Trần Anh S phạm tội “Che giấu tội phạm”.
Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123 và khoản 1 Điều 304; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 15; Điều 57; Điều 54; Điều 55 của Bộ luật Hình sự năm 2015, đề nghị xử phạt bị cáo H từ 10 đến 12 năm tù về tội “Giết người” và 02 – 03 năm tù về tội “Tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành từ 12 đến 15 năm tù của cả hai tội.
Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 389; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, đề nghị xử phạt bị cáo S từ 12 đến 15 tháng tù.
Về vật chứng: Đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo H đã tác động gia đình đã bồi thường đầy đủ cho bị hại, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và không có yêu cầu gì khác nên không đề cập đến.
Các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã quy kết; không thắc mắc, khiếu nại nội dung bản cáo trạng.
Người bào chữa cho bị cáo H, Luật sư Nguyễn Tuấn H: Thống nhất với tội danh và khung hình phạt mà Viện kiểm sát đã truy tố; bị cáo H có nhiều tình tiết giảm nhẹ đó là bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã bồi thường cho bị hại và được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên áp dụng điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo H mức hình phạt thấp nhất.
Bị hại khai nhận: Lời trình bày của các bị cáo tại phiên tòa là đúng, chính bị cáo H là người dùng súng bắn bị hại gây ra thương tích với tỷ lệ thương tật là 75%. Bị cáo và gia đình đã bồi thường cho bị hại thỏa đáng nên bị hại không có yêu cầu gì khác và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông S, bà P không có ý kiến gì và không có yêu cầu gì khác.
Lời nói sau cùng của các bị cáo:
- Bị cáo H: Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là sai trái, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm về lo cho mẹ già.
- Bị cáo S: Bị cáo biết lỗi của mình, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để sớm về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án không khiếu nại về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được tiến hành hợp pháp.
Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo Nguyễn Duy H, Trần Anh S đã khai nhận:
Do bị cáo H và bị hại C có vay mượn tiền với nhau nên giữa hai bên có xảy ra mâu thuẫn. Vào khoảng 20 giờ ngày 17/4/2021, tại thôn Quang Trung 1, xã G, huyện L, bị cáo Nguyễn Duy H thấy bị hại Nguyễn Văn C cùng với bố là ông Nguyễn Văn S đang xếp hàng lên xe ô tô của nhà xe Vạn Hạnh thì H đến chửi thề và nói với C “mày thích chết không? ra đây”. Đồng thời H đưa tay vào trong túi da đeo trước ngực, tay phải cầm súng bắn một phát lên trời, sau đó giữa bị cáo H và bị hại C lời qua tiếng lại với nhau, bị cáo H dùng tay tát vào mặt bị hại C một cái. Bị đánh, bị hại C cầm xô đựng rác bằng nhựa gần đó lao vào định đánh bị cáo H, thấy vậy ông S cũng lao vào phía bị cáo H thì bị cáo H lùi lại và bắn một phát súng xuống đất. Bị hại C và ông S đứng lại, rồi tiếp tục lao về phía bị cáo H, bị cáo H giơ súng về phía bị hại C bắn một phát làm bị hại C gục xuống đất và nói với ông S “Con bị dính rồi”, thì ông S cầm xô đựng rác đuổi theo bị cáo H, bị cáo H vừa chạy vừa bắn một phát súng nữa. Đuổi được một đoạn thì ông S quay lại chỗ bị hại C đang nằm rồi cùng một số người dân đưa bị hại C đi cấp cứu.
Bị cáo Trần Anh S đứng ngoài chứng kiến toàn bộ sự việc, khi thấy bị cáo H bắn làm bị hại C gục xuống xong bỏ chạy, bị cáo S chạy xe theo bị cáo H thì H nhờ bị cáo S chở đi thành phố Đà Lạt nên bị cáo S đồng ý. Sau đó bị cáo H điều khiển xe máy chở bị cáo S đi, khi đến trạm xăng dầu ở làng hoa Vạn Thành, thành phố Đà Lạt, thì H mượn điện thoại của S gọi taxi đi huyện Đ còn S điểu khiển xe máy về nhà ở thôn 3, xã G, huyện L. Khi đến huyện Đ, bị cáo H đón xe khách Thành Bưởi về Thành phố Hồ Chí Minh thì bị Công an bắt giữ.
Bị hại Nguyễn Văn C bị vết thương: Thủng 02 lỗ trực tràng, cắt trực tràng 6cm làm hậu môn nhân tạo, thủng 01 lỗ bàng quang, thủng 03 lỗ ruột non, đứt tĩnh mạch chậu trái, vết thương xuyên đầu vào hố chậu trái 01 cm, đầu ra mông pH 4,5cm.
Đối chiếu lời khai của các bị cáo tại Cơ quan Điều tra phù hợp với lời khai tại phiên tòa hôm nay; phù hợp lời khai của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, vật chứng thu giữ, Bản kết luận giám định; Hội đồng xét xử có đủ căn cứ tuyên bố bị cáo Nguyễn Duy H phạm tội “Giết người” và tội “Tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng” quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123; khoản 1 Điều 304 của Bộ luật Hình sự năm 2015; bị cáo Trần Anh S phạm tội “Che giấu tội phạm” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 389 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xét tính chất vụ án là đặc biệt nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, chỉ vì mâu thuẫn nhỏ trong việc vay mượn tiền, bị cáo Nguyễn Duy H đã dùng súng quân dụng bắn vào người của bị hại Nguyễn Văn C. Hậu quả, bị hại C bị vết thương: Thủng 02 lỗ trực tràng, cắt trực tràng 6cm làm hậu môn nhân tạo, thủng 01 lỗ bàng quang, thủng 03 lỗ ruột non, đứt tĩnh mạch chậu trái, vết thương xuyên đầu vào hố chậu trái 01 cm, đầu ra mông pH 4,5cm; tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích là 75%. Hành vi của bị cáo H đã trực tiếp xâm hại đến tính mạng, sức khỏe của bị hại được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội. Bị cáo Trần Anh S là người chứng kiến sự việc bị cáo H dùng súng bắn bị hại C gục tại chỗ nhưng lại dùng xe máy của mình chở H đi bỏ trốn.
Trong vụ án này, bị hại Nguyễn Văn C và ông Nguyễn Văn S có hành vi dùng xô nhựa đuổi đánh H nhưng chưa gây thương tích đối với H nên không đề cập đến.
Riêng đối tượng tên Tuấn là người bán khẩu súng quân dụng cho bị cáo H qua mạng Internet, quá trình điều tra chưa xác định được nhân thân, lai lịch của đối tượng nên tách ra, tiếp tục làm rõ xử lý sau.
Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đánh giá nhân thân, vai trò của từng bị cáo:
- Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử các bị cáo Nguyễn Duy H, Trần Anh S đã thành khẩn khai báo nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Bị cáo Nguyễn Duy H đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại toàn bộ chi phí điều trị số tiền 150.000.000đ và được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Đối với tội “Giết người” bị cáo H thực hiện thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt nên được áp dụng Điều 15, Điều 57 của Bộ luật Hình sự năm 2015 để xem xét khi quyết định hình phạt.
Bị cáo Nguyễn Duy H phạm 02 tội nên áp dụng Điều 55 của Bộ luật Hình sự năm 2015 để tổng hợp hình phạt đối với bị cáo.
Bị cáo Trần Anh S có bố được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhì và hạng ba nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Về trách nhiệm dân sự:
Sau khi xảy ra vụ án, gia đình bị hại đã lo chi phí cấp cứu, điều trị cho bị hại C số tiền 150.000.000đ, bị cáo Nguyễn Duy H đã tác động gia đình đã bồi thường bị hại C số tiền trên. Tại phiên tòa hôm nay, bị hại Nguyễn Văn C không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét.
Về vật chứng:
Giao cho Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Lâm Đồng để xử lý theo quy định của pháp luật các vật chứng sau:
- 01 (một) khẩu súng ngắn màu đen, ốp tay cầm bằng nhựa cứng màu nâu, phần cò súng và búa đập bằng kim loại màu vàng; súng có kích thước tổng thể 14cm x 21,5cm, thân súng có các ký hiệu: “BLOW C75”, “cal.9 mm.P.A.K”, “B61Y2-19080249”;
- 01 (một) vỏ đạn bằng kim loại màu vàng cao 1,8cm, đường kính 10,36mm, mặt ngoài đáy vỏ đạn có chất màu xanh bám dính và có ký “S&B 17 9x19”;
- 01 (một) vỏ đạn bằng kim loại màu vàng cao 1,8cm, đường kính 10,36mm, mặt ngoài đáy vỏ đạn có chất màu đỏ bám dính và có ký “S&B 9mm M”;
- 01 (một) đầu đạn bằng kim loại màu vàng mũi tù cao 01cm, bề ngoài bị lõm biến dạng và có nhiều vết trượt xước mài mòn.
Tịch thu, tiêu hủy các vật chứng sau: 01 (một) xô nhựa màu trắng bị bẹp; 01 (một) túi xách da màu đen có chữ Jeep; 01 (một) dao dài 65cm có cán bằng tre dài 80cm, lưỡi bằng sắt dài 35cm, phần lưỡi sắt rộng 5cm, mũi quắm; 02 (hai) đôi giày màu trắng xanh dài 30cm rộng 10cm.
Trả lại cho bị cáo Nguyễn Duy H: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu xanh loại TA–1174, số IMEI1: 352428901600194, IMEI2: 352428903600192.
Trả lại cho bị cáo Trần Anh S: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Realme 5 loại cảm ứng màu tím.
Trả lại cho gia đình bị cáo Trần Anh S: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter màu đỏ - trắng, biển kiểm soát 49D1 - 596.28.
Trả lại cho ông Nguyễn Văn S: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Vivo màu xanh đã cũ, không kiểm tra chất lượng bên trong máy.
Lưu hồ sơ vụ án: 02 thẻ nhớ dung lượng 32GB micro SD, Netac màu đen; 01 (một) thẻ nhớ màu đen 32GB micro HC hiệu Samsung; 01 (một) USB nhãn hiệu Kingston dung lượng 8GB.
Về án phí: Các bị cáo pH chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy đinh.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Duy H phạm tội “Giết người” và tội “Tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”, bị cáo Trần Anh S phạm tội “Che giấu tội phạm”.
Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123; khoản 1 Điều 304; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 15; Điều 57; Điều 38; Điều 55 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy H 12 (mười hai) năm tù về tội “Giết người”; và 02 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Nguyễn Duy H phải chấp hành 14 (mười bốn) năm tù cho cả hai tội. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 18/4/2021.
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 389; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo Trần Anh S 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 18/4/2021.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Giao cho Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Lâm Đồng để xử lý theo quy định của pháp luật các vật chứng sau:
- 01 (một) khẩu súng ngắn màu đen, ốp tay cầm bằng nhựa cứng màu nâu, phần cò súng và búa đập bằng kim loại màu vàng; súng có kích thước tổng thể 14cm x 21,5cm, thân súng có các ký hiệu: “BLOW C75”, “cal.9 mm.P.A.K”, “B61Y2-19080249”;
- 01 (một) vỏ đạn bằng kim loại màu vàng cao 1,8cm, đường kính 10,36mm, mặt ngoài đáy vỏ đạn có chất màu xanh bám dính và có ký “S&B 17 9x19”;
- 01 (một) vỏ đạn bằng kim loại màu vàng cao 1,8cm, đường kính 10,36mm, mặt ngoài đáy vỏ đạn có chất màu đỏ bám dính và có ký “S&B 9mm M”;
- 01 (một) đầu đạn bằng kim loại màu vàng mũi tù cao 01cm, bề ngoài bị lõm biến dạng và có nhiều vết trượt xước mài mòn.
(Theo Lệnh nhập kho ngày 14/10/2021 tại Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Lâm Đồng)
Tịch thu, tiêu hủy các vật chứng sau: 01 (một) xô nhựa màu trắng bị bẹp; 01 (một) túi xách da màu đen có chữ Jeep; 01 (một) dao dài 65cm có cán bằng tre dài 80cm, lưỡi bằng sắt dài 35cm, phần lưỡi sắt rộng 5cm, mũi quắm; 02 (hai) đôi giày màu trắng xanh dài 30cm rộng 10cm.
Trả lại cho bị cáo Nguyễn Duy H: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu xanh loại: TA–1174, số IMEI1: 352428901600194, IMEI2: 352428903600192.
Trả lại cho bị cáo Trần Anh S: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Realme 5 loại cảm ứng màu tím.
Trả lại cho gia đình bị cáo Trần Anh S: 01 (một) xe moto nhãn hiệu Yamaha Excenter màu đỏ - trắng, biển kiểm soát 49D1 - 596.28.
Trả lại cho ông Nguyễn Văn S: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Vivo màu xanh đã cũ, không kiểm tra chất lượng bên trong máy.
(Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng ngày 07/10/2021 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Lâm Đồng)
Lưu hồ sơ vụ án: 02 thẻ nhớ dung lượng 32GB micro SD, Netac màu đen; 01 (một) thẻ nhớ màu đen 32GB micro HC hiệu Samsung; 01 (một) USB nhãn hiệu Kingston dung lượng 8GB.
4. Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Nguyễn Duy H, Trần Anh S mỗi bị cáo pH chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo yêu cầu Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm. Người liên quan chỉ được kháng cáo phần có liên quan.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Lâm Đồng (02); - VKSNDCC tại Tp HCM (01); - Vụ GĐKT I – TANDTC (01); - Phòng PV27 CA Lâm Đồng (01); - Cơ quan CSĐT CA Lâm Đồng (02); - Cơ quan THAHS CA Lâm Đồng (02); - Sở tư pháp tỉnh Lâm Đồng (01); - Trại tạm giam (04); - Bị cáo (02); Bị hại (01); - Người liên quan (02); - Người bào chữa (01); - Phòng KTNV&THA (04); - Lưu Tòa Hình sự. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Duy Hoài |