- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Tú Tài (Lừa đảo chiếm đoạt tài sản) - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: ị c o Nguyễn Tú T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản ”.
- Căn cứ chính? Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM QUẬN K, THÀNH PHỐ C | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| n n số: 03/2022/HS-ST Ngày: 19/01/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN K, THÀNH PHỐ C
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: à Nguyễn Thị NB
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Đỗ Thị H – Phó trưởng phòng lao động thương binh và xã hội quận K.
2. Bà Trần Thị D – Chủ tịch hội liên hiệp phụ nữ phường A.
- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh S - Thư ký Tòa án nhân dân quận K, thành phố C.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận K, thành phố C tham gia phiên tòa: Ông Võ Minh K - Kiểm s t viên.
Ngày 19 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Tòa n nhân dân quận K, thành phố C xét xử sơ thẩm công khai vụ n hình sự sơ thẩm thụ lý số: 227/2021/HSST ngày 29 tháng 10 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ n ra xét xử số: 847/2021/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 12 năm 2021 đối với bị c o:
Nguyễn Tú T, sinh năm: 2002, tại Kiên Giang.
ĐKHKTT: Tổ 2, ấp Suối Mây, xã D, thành phố Pc, tỉnh K;
Nơi cư trú: 228 Khu vực PQ, phường T, quận C, thành phố C;
Nghề nghiệp: Không;
Trình độ học vấn: 12/12;
Dân tộc: Kinh;
Giới tính: Nam;
Tôn giáo: Không;
Quốc tịch: Việt Nam;
Con ông: Nguyễn Văn U và bà Huỳnh Thị ích T;
Tiền n: Không.
Tiền sự: Không;
ị c o bị tạm giữ từ ngày 09/05/2021;
ị c o có mặt tại phiên tòa.
-Bị hại:
1/ Ông Nguyễn Tuấn K, sinh năm: 2001 (có mặt).
Địa chỉ: Nhà trọ H, phường T, quận C, thành phố C.
2/ à Phạm Thị Thu T, sinh năm: 2002 (vắng mặt).
Địa chỉ: số 6, khu phố 10 tổ 70, phường H, quận C, thành phố C.
3/ à Nguyễn Thị Yến N, sinh năm: 2000 (vắng mặt).
Địa chỉ: 135A/4 đường M, phường A, quận K, thành phố C.
4/ Ông Phòng Phúc T, sinh năm: 2004 (có mặt).
5/ Đại diện hợp pháp của bị hại Phòng Phúc T – à Phòng Thị Đức (mẹ ruột), sinh năm: 1971(có mặt).
Cùng cư ngụ tại địa chỉ: 260A/8 Trần Vĩnh Kiết, khu vực 2, phường An Bình, quận K, thành phố C.
6/ Ông Nguyễn Tấn L, sinh năm: 2005 (có mặt).
7/ Đại diện hợp ph p của bị hại ông Nguyễn Tấn L – à Nguyễn Thị (mẹ ruột), sinh năm: 1971(có mặt).
Cùng cư ngụ tại địa chỉ: Nhà trọ , KDC , phường A, quận K, thành phố C.
8/ Ông Võ Phúc L, sinh năm: 2001(vắng mặt).
Địa chỉ: ấp Vàm Đình, xã Phú Thuận, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.
9/ Ông Nguyễn Thành Tài, sinh năm: 1988 (có mặt).
Địa chỉ: 183/9 Khu vực ình Yên , phường Long Hòa, quận ình Thủy, thành phố C.
-Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1/ Bà Huỳnh Thị ích T, sinh năm: 1980 (có mặt).
Địa chỉ: Tổ 2 ấp Suối Mây, xã Dương Tơ, thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.
2/ Công ty tài chính TNHH MB (vắng mặt).
Đia chỉ: đường T, phường L, quận Đ, thành phố N.
Đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Công ty tài chính TNHH MB– ông Nguyễn VT
Địa chỉ: khu vực M, phường A, quận K, thành phố C.
-Người làm chứng: Nguyễn Thị D, sinh năm: 1995 (vắng mặt).
Địa chỉ: Nhà trọ H, hẻm 49 , phường H, quận K, thành phố C.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Tú T làm việc b n thời gian tại Công ty TNHH Dịch vụ o vệ từ th ng 3/2021, đến cuối th ng 4/2021 thì nghỉ việc. Do công việc có thu nhập thấp và đã nghỉ việc nên T n y sinh ý định lừa đ o chiếm đoạt tài s n để có tiền tiêu xài c nhân và tr nợ. Trong kho ng thời gian từ th ng 4/2021 đến th ng 5/2021, Nguyễn Tú T đã 10 lần đưa ra thông tin gian dối để thực hiện 07 vụ lừa đ o chiếm đoạt tài s n của 07 bị hại, cụ thể như sau:
Vụ thứ nhất, kho ng giữa th ng 3/2021, Nguyễn Tú T làm quen với ông Võ Phúc L và tự giới thiệu mình tên o, công t c tại Công an quận K. Sau đó, Tài đã 04 lần đưa ra thông tin gian dối về việc cơ quan Công an cần b n thanh lý xe mô tô gi rẻ để ông L tin tưởng mua xe, khi ông L chuyển tiền mua xe thì T chiếm đoạt. Cụ thể, vào kho ng đầu th ng 4/2021, Nguyễn Tú T nói với ông L về việc cơ quan của T có b n thanh lý 01 xe Honda Dio gi 8.000.000 đồng, ông L đồng ý mua nên ngày 8/4/2021 đã chuyển tiền vào tài kho n số M, chủ tài kho n Nguyễn Tú T, mở tại ngân hàng A. Đến ngày 11/4/2021 và ngày 16/4/2021, Tài lần lượt chào b n thanh lý cho ông Lâm 01 xe mô tô hiệu Honda Vision gi 5.000.000 đồng và 01 xe mô tô hiệu Suzuki Sport gi 7.000.000 đồng, ông L đồng ý mua nên đã hai lần chuyển số tiền 5.100.000 đồng và 7.100.000 đồng để mua 02 xe mô tô trên vào tài kho n A của Nguyễn Tú T; trong đó số tiền dư 100.000 đồng của mỗi lần chuyển kho n là ông L cho T uống cà phê. Ngày 21/4/2021, T tiếp tục giới thiệu b n thanh lý 01 xe mô tô hiệu Yamaha Yaz với gi 21.000.000 đồng, ông L đồng ý mua nên đã chuyển số tiền 21.000.000 đồng vào Tài kho n số 19036054396010, tên chủ tài kho n Nguyễn Thị D, mở tại Techcombank. Đồng thời, Nguyễn Tú T liên hệ với chị D hỏi mượn số tài kho n ngân hàng để nhận số tiền 21.000.000 đồng rồi chị D chuyển vào tài kho n Agribank của Nguyễn Tú T. Sau đó, do nhiều lần hẹn giao xe cho ông L nhưng không có nên T đã tr lại ông Lâm 10.000.000 đồng. Tổng cộng, Nguyễn Tú T đã 04 lần lừa đ o chiếm đoạt của anh Võ Phúc L số tiền 41.000.000 đồng.
Vụ thứ hai, vào sáng ngày 19/4/2021, ông Nguyễn Thành T (Gi m đốc Công ty TNHH Dịch vụ o vệ ), nhờ Nguyễn Tú T hỏi mua giúp 08 vé tàu cao tốc tuyến Rạch Gi – Nam Du nên Nguyễn Tú T đã n y sinh ý định chiếm đoạt tiền mua vé tàu của ông Nguyễn Thành Tài. Đến chiều cùng ngày, Nguyễn Tú T đã nói dối với ông Nguyễn Thành T là đã hỏi được chỗ mua vé tàu và yêu cầu ông Nguyễn Thành T chuyển số tiền 3.520.000 đồng cho 08 vé tàu vào tài kho n Techcombank tên Nguyễn Thị D và nói đây là tài kho n của người b n vé. Đồng thời, Nguyễn Tú T liên hệ với bà D hỏi mượn số tài kho n ngân hàng để nhận số tiền 3.520.000 đồng rồi bà D chuyển vào tài kho n Agribank của Nguyễn Tú T. Sau đó, Nguyễn Tú T đã rút tiền ra tiêu xài c nhân.
Vụ thứ ba, vào cuối th ng 4/2021, Nguyễn Tú T làm quen với bà Nguyễn Thị Yến N và tự giới thiệu tên o, đang công t c trong Lực lượng Công an. Sau đó, T đưa ra thông tin gian dối về việc cơ quan của T có bán thanh lý 01 xe mô tô hiệu Honda Vario với gi 4.000.000 đồng và bà N đồng ý mua. Đến tối ngày 3/5/2021, T đến phòng trọ của bà N tại số 135A/4 đường 3/2, P. An ình, Q. K, lấy 4.000.000 đồng và hẹn đến ngày 6/5/2021 sẽ giao xe cho bà N. Sau đó, T tiêu xài hết số tiền lấy được.
Vụ thứ tư, thông qua mối quan hệ với bà Nguyễn Thị Yến N, Nguyễn Tú T làm quen với ông Nguyễn Tuấn K. Khi gặp ông K thì Tài cũng tự giới thiệu tên
o, đang công t c trong Lực lượng Công an. Ngày 04/5/2021, Tài đưa ra thông tin gian dối với ông K là cơ quan của T có b n thanh lý 01 xe mô tô hiệu Click của Th i Lan s n xuất với gi 17.000.000 đồng, nếu muốn mua thì ph i đặt cọc trước 500.000 đồng. Ông K muốn mua xe trên nên đã đưa cho T tiền đặt cọc. Đến ngày 05/5/2021, ông K gặp T thương lượng hạ gi xe thì T đồng ý hạ gi xuống 15.000.000 đồng. Sau đó, ông K đã chuyển kho n số tiền 15.000.000 đồng vào tài kho n A của Nguyễn Tú T để mua xe mô tô trên, rồi tiếp tục chuyển số tiền 925.000 đồng vào tài kho n trên theo yêu cầu của T để mua b o hiểm cho xe mô tô. Nguyễn Tú T hẹn ông K đến chiều 05/5/2021 sẽ giao xe cho ông K. Đến tối ngày hẹn không thấy xe khiến ông K nghi ngờ bị lừa đ o và yêu cầu T tr lại tiền nên T đã tr lại cho ông K 10.000.000 đồng. Tổng số tiền mà Nguyễn Tú T đã chiếm đoạt của ông Nguyễn Tuấn K là 16.425.000 đồng.
Vụ thứ năm, kho ng cuối th ng 4/2021, Nguyễn Tú T làm quen với ông Phòng Phúc T và ông Nguyễn Tấn L; Nguyễn Tú T tự giới thiệu tên o, đang công t c trong Lực lượng Công an. Nguyễn Tấn L thấy Tài làm trong Lực lượng Công an nên nhờ Tài giúp đỡ để sớm lấy xe mô tô bị Công an quận u tạm giữ từ th ng 01/2021 do vi phạm quy định về tham gia giao thông. Nguyễn Tú T đã đưa ra thông tin gian dối với L cần đóng tiền phạt 2.300.000 đồng và đóng tiền giữ xe 500.000 đồng thì mới lấy xe ra được. L đồng ý nên ngày 3/5/2021 đã chuyển 2.300.000 đồng vào tài kho n A của Nguyễn Tú T và 500.000 đồng vào tài kho n số M, chủ tài kho n tên Huỳnh Thị ích T, mở tại Sacombank. Sau đó, T nói với bà Huỳnh Thị ích T (mẹ ruột của T) số tiền 500.000 đồng này là tiền của T chuyển cho bà T; còn số tiền 2.300.000 đồng thì Tài rút ra tiêu xài hết. Tổng số tiền mà T đã chiếm đoạt của em L là 2.800.000 đồng.
Vụ thứ sáu, ngày 05/5/2021, khi nói chuyện với Phòng Phúc T thì Nguyễn Tú T đã đưa ra thông tin gian dối về việc cơ quan của T có bán thanh lý 01 xe mô tô hiệu Honda Sonic với gi 6.500.000 đồng và Phòng Phúc T đồng ý mua xe trên nên đã chuyển số tiền 4.900.000 đồng vào tài kho n A của Nguyễn Tú T, khi nào nhận xe sẽ tr số tiền còn lại. Sau đó, Nguyễn Tú T đã rút hết số tiền trên tiêu xài c nhân. Sau nhiều lần hẹn giao xe mà không có nên Nguyễn Tú T đã tr lại cho ông Phòng Phúc T số tiền 1.000.000 đồng, vậy số tiền mà Nguyễn Tú T đã chiếm đoạt của Phòng Phúc T là 4.900.000 đồng.
Vụ thứ bảy, ngày 29/4/2021, Nguyễn Tú T làm quen với bà Phạm Thị Thu T và Tài tự giới thiệu tên o, hiện đang công t c trong Lực lượng Công an. Đến ngày 7/5/2021, T đưa ra thông tin gian dối về việc có 01 xe Honda Vision b n thanh lý gi 9.000.000 đồng và bà T đồng ý mua. Đến ngày 8/5/2021, T bị ông Nguyễn Tuấn K hối thúc ph i tr số tiền mà Tài đã chiếm đoạt nên Tài đã kêu chị T đưa trước 5.000.000 đồng để mua xe; chị T đồng ý nên tối ngày 8/5/2021, chị T đã đi đến trước cổng Công an phường L, quận C, đưa cho Tài số tiền 4.800.000 đồng. Sau khi nhận tiền từ chị T thì Nguyễn Tú T cất tiền vào túi và bị ông Nguyễn Tuấn K đưa đến Công an phường An Phú, quận K, để tố gi c hành vi lừa đ o chiếm đoạt tài s n của Nguyễn Tú T.
Tài liệu, đồ vật thu giữ của Nguyễn Tú T gồm: 01 điện thoại di động hiệu OPPO A53 màu xanh đen; 01 xe mô tô hiệu Honda Vario màu trắng, biển số 68P1-660.64; 01 bóp da nam, màu đen, hiệu TISDENY; 01 thẻ ngân hàng Agribank tên Nguyễn Tú T; 01 thẻ ngân hàng Sacombank tên Nguyễn Tú T; 01 giấy chứng minh nhân dân tên Nguyễn Tú T; tiền Việt Nam 5.000.000 đồng.
Tiến hành kh m xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Tú T, thu giữ: 01 túi x ch màu đen có thêu huy hiệu CAND Việt Nam và dòng chữ POLICE màu vàng; 01 đôi giày da màu đen; 01 đôi tất màu xanh l ; 01 bộ trang phục xuân hè của Lực lượng An ninh nhân dân; 01 cặp phù hiệu Công an nhân dân; 06 thẻ bằng giấy được ép nhựa, kích thước (3x5) cm, một mặt màu đỏ có dòng chữ “Giấy chứng minh Công an nhân dân”; 01 gậy đèn chỉ huy tín hiệu giao thông màu xanh-đỏ; và 01 giấy ủy quyền tên Võ Phúc L.
Tại Cơ quan điều tra, bị cáo Nguyễn Tú T khai nhận do cần tiền tr nợ và tiêu xài c nhân nên đã n y sinh ý định gi mạo là c n bộ của Lực lượng Công an nhân dân, lấy tên là o để làm quen, đưa ra thông tin gian dối về việc cơ quan công an b n xe thanh lý gi rẻ hơn gi thị trường cho những người có nhu cầu mua xe gi rẻ hơn rồi khi c c bị hại chuyển tiền mua xe thì T chiếm đoạt số tiền trên. Ngoài ra, bị cáo Nguyễn Tú T còn thừa nhận đã đưa ra thông tin gian dối về việc sẽ lấy xe mô tô bị Công an quận Ô Môn tạm giữ cho ông Nguyễn Tấn L rồi chiếm đoạt số tiền mà ông Lộc chuyển kho n để đóng phạt và đóng tiền giữ xe. Đồng thời, Nguyễn Tú T còn thừa nhận đã đưa ra thông tin gian dối về việc mua 08 vé tàu cao tốc tuyến Rạch Gi – Nam Du cho anh Nguyễn Thành T rồi chiếm đoạt số tiền mà ông Nguyễn Thành T chuyển để mua vé. Sau khi chiếm đoạt tài s n của c c bị hại và không giao xe thanh lý như đã hứa nên khi c c bị hại đòi tiền thì bị cáo đã tr lại 10.000.000 đồng cho ông Nguyễn Tuấn K, 10.000.000 đồng cho ông Võ Phúc L, và 1.000.000 đồng cho ông Phòng Phúc T. Tổng số tiền mà bị cáo Nguyễn Tú T đã chiếm đoạt được của c c bị hại là 77.445.000 đồng.
Đối với 01 xe mô tô hiệu Honda Vario, màu trắng, biển số 68P1-660.64, do Nguyễn Tú T đứng tên chủ sở hữu. Qua x c minh, xe mô tô trên do bị cáo mua bằng nguồn tiền vay từ Công ty Tài chính, sau đó đã thế chấp lại xe mô tô này để đ m b o cho kho n vay 34.815.000 đồng, hình thức thanh to n kho n vay là tr góp hàng th ng trong thời gian 12 th ng. Đến khi bị bắt, bị cáo đã tr được 03 th ng, số tiền còn nợ là 33.863.761 đồng. Công ty Tài chính yêu cầu được thu hồi tài s n thế chấp là xe mô tô trên để thanh to n cho kho n nợ còn lại nên Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng tr lại xe mô tô trên cho Công ty Tài chính SHINSEI.
Đối với bà Nguyễn Thị D và bà Huỳnh Thị ích T, qua điều tra x c định bà D được bị cáo Nguyễn Tú T mượn tài kho n ngân hàng để nhận số tiền 24.520.000 đồng của c c bị hại Võ Phúc L và bị hại Nguyễn Thành T rồi bà Diệu chuyển lại cho bị cáo. Bị cáo Nguyễn Tú T đã dùng số tài kho n ngân hàng của bà T để bị hại Nguyễn Tấn L chuyển số tiền 500.000 đồng vào và bị c o nói rằng tiền là của bị c o cho bà T Bà D và bà T không biết số tiền chuyển vào tài kho n của mình là do bị cáo Tài chiếm đoạt của người kh c mà có nên không đủ căn cứ xử lý.
Bà Huỳnh Thị ích T đã tự nguyện nộp số tiền 10.000.000 đồng khắc phục hậu qu thay cho bị cáo Nguyễn Tú T.
Về tr ch nhiệm dân sự, c c bị hại yêu cầu bồi thường tổng số tiền 56.445.000 đồng. Cụ thể:
ị hại Võ Phúc L yêu cầu bồi thường 31.000.000 đồng.
ị hại Nguyễn Thành T yêu cầu bồi thường 3.520.000 đồng.
ị hại Nguyễn Thị Yến N yêu cầu bồi thường 4.000.000 đồng.
ị hại Nguyễn Tuấn K yêu cầu bồi thường 6.425.000 đồng.
ị hại Nguyễn Tấn L yêu cầu bồi thường 2.800.000 đồng.
ị hại Phòng Phúc T yêu cầu bồi thường 3.900.000 đồng.
ị hại Phạm Thị Thu T yêu cầu bồi thường 4.800.000 đồng.
Qu trình điều tra, bị cáo và gia đình đã tự nguyện bồi thường một phần thiệt hại với số tiền 31.000.000 đồng cho c c bị hại; ngoài ra, bị cáo đã thành khẩn khai b o, ăn năn hối c i. Tại thời điểm phạm tội thì bị cáo không có công việc và thu nhập ổn định, sử dụng tài s n chiếm đoạt làm nguồn sống chính nên bị cáo phạm tội thuộc trường hợp có tính chất chuyên nghiệp.
Tại b n c o trạng số: 208/CT –VKSNK ngày 25 tháng 10 năm 2021 Viện kiểm s t nhân dân quận K truy tố bị c o Nguyễn Tú T về tội Lừa đ o chiếm đoạt s n theo điểm b, c kho n 2, Điều 174 ộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
Bị c o Nguyễn Tú T thừa nhận hành vi phạm tội như c o trạng đã truy tố, xin gi m nhẹ hình phạt.
C c bị hại yêu cầu bồi thường cụ thể như sau:
ị hại Nguyễn Thành T yêu cầu bồi thường 3.520.000 đồng.
ị hại Nguyễn Tuấn K yêu cầu bồi thường 6.425.000 đồng.
ị hại Nguyễn Tấn L và người b o vệ quyền và lợi ích hợp ph p của bị hại Lộc thống nhất yêu cầu bồi thường 2.800.000 đồng.
ị hại Phòng Phúc T và người b o vệ quyền và lợi ích hợp ph p của bị hại Tài thống nhất yêu cầu bồi thường 3.900.000 đồng.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: à Huỳnh Thị ích T nộp số tiền 10.000.000 đồng bồi thường thiệt hại và không có yêu cầu gì đối với số tiền này.
Đại diện Viện kiểm s t giữ nguyên quan điểm truy tố của Viện kiểm s t: Truy tố bị c o Nguyễn Tú T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và đề nghị Hội đồng xét xử p dụng điểm b, c kho n 2 Điều 174, điểm s, b kho n 1 Điều 51, kho n 2 Điều 51 Điều 38 ộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị c o Nguyễn Tú T từ 05 (năm) năm đến 06 (sáu) năm tù giam.
Áp dụng Điều 47 ộ luật Hình sự, Điều 106 ộ luật Tố tụng hình sự về xử lý vật chứng:
ị c o dùng điện thoại di động hiệu OPPO A53 màu xanh đen để liên hệ với c c bị hại nhằm chiếm đoạt tài s n nên đề nghị tịch thu sung công;
C c vật chứng: 1 bóp da nam, màu đen, hiệu TISDENY; 01 thẻ ngân hàng Agribank tên Nguyễn Tú T; 01 thẻ ngân hàng Sacombank tên Nguyễn Tú T; 01 giấy chứng minh nhân dân tên Nguyễn Tú T là tài s n c nhân của bị c o nên tr lại cho bị c o.
Số tiền 4.800.000đ bị c o chiếm đoạt của bị hại Phạm Thị Thu T, Cơ quan điều tra đã thu hồi được nên đề nghị tr cho bị hại T.
Đối với số tiền 200.000 đồng thu của bị c o và 10.000.000đ tiền khắc phục hậu qu của bà Tuyền nộp thay bị c o đề nghị tiếp tục tạm giữ để đ m b o thi hành án.
Các vật dụng gồm: Túi x ch màu đen có thêu huy hiệu CAND Việt Nam và dòng chữ Police màu vàng, 01 đôi giày da màu đen, 01đôi tất màu xanh l , ộ trang phục xuân hè của lực lượng an ninh nhân dân, cặp phù hiệu Công an nhân dân, thẻ bằng giấy được ép nhựa, kích thước (3x5) cm, một mặt màu đỏ có dòng chữ “Giấy chứng minh công an nhân dân”, 01 gậy chỉ huy tín hiệu giao thông là công cụ phương tiện thực hiện hành vi phạm tội nên đề nghị tịch thu tiêu hủy.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về tố tụng: Trong qu trình điều tra, truy tố Cơ quan Công an và Viện kiểm s t đã thực hiện đúng quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của ph p luật tố tụng hình sự.
Về trách nhiệm hình sự: Lời khai nhận tội của bị c o là phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, lời khai của bị hại và c c giao dịch chuyển tiền vào tài kho n ngân hàng của bị c o, bà D, bà T đã đủ cơ sở kết luận bị c o Nguyễn Tú T b n thân không ph i chiến sỹ trong lực lượng công an, không thể mua c c loại xe thanh lý của cơ quan công an với gi rẻ, không thể làm thủ tục nhận lại xe bị bắt do vi phạm hành chính, không có mối quan hệ với trạm b n vé tàu nhưng để tạo lòng tin cho bị hại, bị c o đã sử dụng trang phục, phù hiệu, thẻ ngành và công cụ hỗ trợ nghiệp vụ của lực lượng công an để tạo lòng tin rồi đưa ra thông tin gian dối rằng bị c o hiện đang công t c trong lực lượng công an, có c c mối quan hệ để mua được xe thanh lý với gi rẻ, có thể nhận lại xe bị phạt vi phạm hành chính để chiếm đoạt tài s n của bị hại. Với thủ đoạn gian dối, gi danh lực lượng công an như trên bị c o đã thực hiện 07 vụ lừa đ o chiếm đoạt tài s n của 07 bị hại với tổng gi trị về tài s n đã chiếm đoạt là 77.445.000 đồng. Hành vi này của bị c o đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đ o chiếm đoạt tài s n” theo quy định tại điểm b, c kho n 2 Điều 174 ộ luật hình sự.
Việc truy tố của Viện kiểm s t nhân dân quận K đối với bị c o là có căn cứ, đúng ph p luật.
Bị c o là người đã thành niên có sức khỏe, có nhận thức ph p luật đầy đủ, nhưng vì muốn có tiền tiêu xài nên đã có hành gian dối, đưa ra thông tin sai sự thật nhằm chiếm đoạt tài s n của bị hại. Hành vi của bị c o đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài s n của người kh c được ph p luật b o vệ, làm xấu hình nh của lực lượng Công an nhân dân đồng thời làm mất an ninh trật tự tại địa phương.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị c o thành khẩn khai b o ăn năn, hối c i, bị c o đã tr lại một phần tài s n chiếm đoạt cho bị hại, gia đình bị c o đã nộp tiền khắc phục hậu qu cho các bị hại, bị hại yêu cầu gi m nhẹ hình phạt cho bị c o. Do đó, bị c o hưởng tình tiết gi m nhẹ tr ch nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s kho n 1, kho n 2 Điều 51, ộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:
Ghi nhận bị c o tự nguyện bồi thường cho c c bị hại cụ thể như sau:
ồi thường cho bị hại Võ Phúc L số tiền 31.000.000 đồng.
ồi thường cho bị hại Nguyễn Thành T số tiền 3.520.000 đồng.
ồi thường cho bị hại Nguyễn Thị Yến N số tiền 4.000.000 đồng.
ồi thường cho bị hại Nguyễn Tuấn K số tiền 6.425.000 đồng.
ồi thường cho bị hại Nguyễn Tấn L số tiền 2.800.000 đồng.
ồi thường cho bị hại Phòng Phúc T số tiền 3.900.000 đồng.
ồi thường cho bị hại Phạm Thị Thu T số tiền 4.800.000 đồng.
ị c o Nguyễn Tú T đã ký hơp đồng tín dụng với công ty Tài Chính để vay tiền mua xe mô tô biển số 68P1 -660.64 rồi dùng xe mô tô biển số 68P1 - 660.64 để thế chấp cho kho n vay trên. Bị c o đồng ý giao xe mô tô biển số 68P1 -660.64 cho Công ty Tài Chính , điều kho n hợp đồng thế chấp cũng thể hiện Công ty Tài Chính có quyền nhận tài s n thế chấp nên Cơ quan c nh s t điều tra Công an quận K ra quyết định xử lý đồ vật, tài liệu số: 34 ngày 15/09/2021 tr xe mô tô biển số 68P1 -660.64 cho Công ty Tài Chính TNHH là phù hợp nên ghi nhận. Số tiền 4.800.000đ bị c o chiếm đoạt của bị hại Phạm Thị Thu T nên tr cho bị hại T là phù hợp (biên lai thu số 0028 ngày 29/10/2021).
Số tiền 200.000 đồng thu của bị c o và 10.000.000đ tiền khắc phục hậu qu mẹ bị c o đã nộp theo biên lai thu tiền số 0028 ngày 29/10/2021 tiếp tục tạm giữ để đ m b o thi hành n.
ị c o dùng điện thoại di động hiệu OPPO A53 màu xanh đen để liên hệ với c c bị hại nhằm chiếm đoạt tài s n nên tịch thu sung công.
C c vật dụng c nhân bao gồm: 01 bóp da nam, màu đen, hiệu TISDENY; 01 thẻ ngân hàng Agribank tên Nguyễn Tú T; 01 thẻ ngân hàng Sacombank tên Nguyễn Tú T; 01 giấy chứng minh nhân dân tên Nguyễn Tú T là tài s n c nhân của bị c o nên tr lại cho bị c o.
ị c o sử dụng túi x ch màu đen có thêu huy hiệu CAND Việt Nam và dòng chữ Police màu vàng, 01 đôi giày da màu đen, 01đôi tất màu xanh l , bộ trang phục xuân hè của lực lượng an ninh nhân dân, cặp phù hiệu Công an nhân dân, thẻ bằng giấy được ép nhựa, kích thước (3x5) cm, một mặt màu đỏ có dòng chữ “Giấy chứng minh công an nhân dân”, 01 gậy chủ huy tín hiệu giao thông màu xanh đỏ là công cụ, phương tiện phạm tội nên tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Bị c o ph i chịu 200.000 đồng n phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b, c kho n 2 Điều 174; điểm b, s kho n 1, kho n 2 Điều 51, Điều 38 ộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
1. Tuyên bố: ị c o Nguyễn Tú T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản ”.
Xử phạt: ị c o Nguyễn Tú T 05 (năm) tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày 09/05/2021.
2. Về Trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:
Ghi nhận bị c o tự nguyện bồi thường cho c c bị hại cụ thể như sau:
ồi thường cho bị hại Võ Phúc L số tiền 31.000.000 đồng
ồi thường cho bị hại Nguyễn Thành T số tiền 3.520.000 đồng.
ồi thường cho bị hại Nguyễn Thị Yến N số tiền 4.000.000 đồng.
ồi thường cho bị hại Nguyễn Tuấn K số tiền 6.425.000 đồng.
ồi thường cho bị hại Nguyễn Tấn L số tiền 2.800.000 đồng.
ồi thường cho bị hại Phòng Phúc T số tiền 3.900.000 đồng.
Tr cho bị hại Phạm Thị Thu T số tiền 4.800.000 đồng (theo biên lai thu số 0028 ngày 29/10/2021).
-Tạm giữ số tiền 10.200.000đ theo biên lai thu số 0028 ngày 29/10/2021 để đ m b o thi hành n.
Tịch thu sung công: 01 thoại di động hiệu OPPO A53 màu xanh đen;
Tịch thu tiêu hủy:
- 01 túi x ch màu đen có thêu huy hiệu CAND Việt Nam và dòng chữ Police màu vàng;
- 01 đôi giày da màu đen; - 01 đôi tất màu xanh l ;
- 01 bộ trang phục xuân hè của lực lượng an ninh nhân dân;
- 01 cặp phù hiệu Công an nhân dân;
- 06 thẻ bằng giấy được ép nhựa, kích thước (3x5) cm, một mặt màu đỏ có dòng chữ “Giấy chứng minh công an nhân dân”;
- 01 gậy chỉ huy tín hiệu giao thông màu xanh đỏ.
Trả lại cho bị cáo:
- 01 bóp da nam, màu đen, hiệu TISDENY;
- 01 thẻ ngân hàng Agribank tên Nguyễn Tú T;
- 01 thẻ ngân hàng Sacombank tên Nguyễn Tú T;
- 01 giấy chứng minh nhân dân tên Nguyễn Tú T.
3. Về án phí: Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/U TVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, gi m, thu, nộp, qu n lý và sử dụng n phí và lệ phí Tòa án.
ị c o Nguyễn Tú T ph i chịu 200.000 đồng n phí hình sự sơ thẩm.
4. Về kháng cáo: ị c o có quyền kh ng c o b n n này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên n. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kh ng c o b n n trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được b n n hoặc b n n được niêm yết tại địa phương để yêu cầu Tòa n nhân dân thành phố C gi i quyết theo thủ tục phúc thẩm.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| Nơi nhận: - TAND TP.C; - VKSND Q.K; - CA Q. K; - Chi cục THADS Q.K; - Sở Tư ph p TP.C; - Đương sự; - Lưu hồ sơ vụ n; - Lưu Tòa n. | Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị NB |