- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Võ Minh Hải phạm tội “Vận chuyển hàng cấm” - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Võ Minh H ph m tội “Vận chuyển hàng cấm”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN T TỈNH LONG A | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 03/2022/HS-ST Ngày: 26-01-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN T – TỈNH LONG A
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Ánh
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Vĩnh Lâm
Bà Nguyễn Thị Thanh Tuyền
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hiếu Ly – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Th nh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân T tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Hai – Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 01 năm 2022 t i Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân T, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 29/2021/TLST-HS ngày 18 tháng 11 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2022/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 01 năm 2022, đối với:
Bị cáo: Võ Minh H, sinh ngày 29 tháng 12 năm 1990; Nơi sinh: Đức H, Long A; Nơi cư trú: ấp An Thủy, xã An Ninh T, huyện Đức H, tỉnh Long A; Nghề nghiệp: làm thuê; Trình độ học vấn: 5/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch:Việt Nam; con ông Võ Văn M và bà Nguyễn Thị G; Tiền án, tiền sự: Không; bị t m giữ từ ngày 24/6/2021 đến ngày 03/7/2021 chuyển t m giam cho đến nay có mặt t i phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Anh Hồ Minh Hg, sinh ngày 17/6/1992 (có mặt) Nơi cư trú: số 297, khu vực 5, thị trấn Hiệp Hòa, huyện Đức H, tỉnh Long A.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến t i phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào ngày 14/6/2021, Võ Minh H gặp và quen biết ngư i đàn ông tự giới thiệu tên N (không rõ nhân thân, lai lịch) t i quán nước ở khu vực Sò Đo, huyện Đức H, tỉnh Long A. T i đây, N thuê H vận chuyển hàng cấm là thuốc lá điếu ngo i nhập lậu, từ thị xã Kiến T, tỉnh Long A đi giao ở huyện Duyên H, tỉnh Trà V, tiền công mỗi chuyến vận chuyển là 1.500.000 đồng, H đồng ý thực hiện. Đến chiều ngày 23/6/2021, N sử dụng sim số 0909590484 gọi vào điện tho i di động hiệu Nokia màu đen gắn sim số 0908438613 của H kêu H đến Ngã Ba Mỹ Th nh B, thuộc xã Mỹ Th nh B, huyện Đức H, tỉnh Long A để cùng đi vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu. Sau đó, Hải điều khiển xe ôtô nhãn hiệu TOYOTA, số lo i CAMRY, biển số 51H-645.94 chở Nô cùng đi đến thị xã Kiến T, tỉnh Long A. Khi đến thị xã Kiến T, N gọi điện tho i cho 01 ngư i thanh niên tên B (không rõ nhân thân, lai lịch) tới gặp N và H. N kêu H điều khiển xe ôtô nhãn hiệu TOYOTA, số lo i CAMRY, biển kiểm soát 51H-645.94 vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu và chở B ngồi ở ghế phụ để quan sát, canh đư ng, cảnh giới lực lượng Công an. Đến khoảng 23 gi 00 phút, cùng ngày. N điều khiển xe ôtô không rõ biển số đi trước dẫn đư ng cho H điều khiển xe ôtô, biển số 51H-645.94, chở B ngồi ở ghế phụ xe đi nhận thuốc lá ngo i nhập lậu t i bãi đất trống gần cửa khẩu quốc tế Bình Hiệp, thuộc xã Bình Hiệp, thị xã Kiến T, tỉnh Long A. T i đây, có hai ngư i đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch) điều khiển hai xe môtô vận chuyển nhiều bịch nylong màu đen bên trong chứa 4.000 bao thuốc lá điếu nhập lậu gồm: 500 bao hiệu SCOTT, 2.500 bao hiệu HERO, 1000 bao hiệu JET, H, B kiểm tra đủ số lượng và xếp thuốc lá ngo i nhập lậu lên xe ôtô 51H-645.94. N điều khiển xe ô tô không rõ biển số đi trước và yêu cầu Ha, B ch đến khi nào N gọi điện tho i mới bắt đầu điều khiển xe ôtô vận chuyển số thuốc lá ngo i nhập lậu đi giao cho một ngư i đàn ông tên T (không rõ nhân thân, l i lịch). Trong lúc ch H đã lấy 01 (một) bao thuốc lá ngo i hiệu JET ra để hút. Đến khoảng 05 gi 00 phút cùng ngày, N kêu H điều khiển xe ô tô đi, khi đến cầu Ngang ở huyện Duyên H, tỉnh Trà V thì gọi điện tho i cho N sẽ hướng dẫn cụ thể địa điểm giao thuốc lá. Sau đó, H điều khiển xe ôtô biển số 51H-645.94 chở B và số thuốc lá ngo i nhập lậu theo Quốc lộ 62 từ thị xã Kiến T đi về hướng thành phố Tân A, tỉnh Long A. Khi đi đến chốt kiểm dịch Covid-19, gần nơi giao nhau giữa Quốc lộ 62 và N2, thuộc ấp Cá T, xã Kiến B, huyện Tân T, tỉnh Long A thì bị lực lượng Công an huyện Tân T dừng phương tiện kiểm tra. H và B xuống xe tẩu thoát. Đến 08 gi 20 phút ngày 24/6/2021, H đến Công an huyện Tân T đầu thú. Qua điều tra H đã khai nhận toàn bộ hành vi ph m tội nêu trên.
T i bản cáo tr ng số: 29/CT-VKSTT, ngày 17/11/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân T truy tố bị cáo Võ Minh H về tội “Vận chuyển hàng cấm” quy định t i điểm e khoản 2 Điều 191 Bộ luật Hình sự.
T i phiên toà, Đ i diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố t i phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo đồng th i phân tích tính chất và mức độ nguy hiểm xã hội của hành vi vi ph m pháp luật mà bị cáo Võ Minh H gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ điểm e khoản 2 Điều 191; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 38 và Điều 65 Bộ luật hình sự; Đề nghị xử ph t: bị cáo Võ Minh H từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, th i gian thử thách từ 04 đến 05 năm tính từ ngày tuyên án.
Vật chứng trong vụ án: Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 45, 47 Bộ luật hình sự.
- Đề nghị tịch thu tiêu hủy: 999 bao hiệu JET, 500 bao hiệu SCOTT, 2.500 bao hiệu HERO là vật chứng vụ án và 02 chai nước suối thu giữ trên xe ô tô biển kiểm soát 51H-645 94 gồm 01 chai nước suối trên nắp chai có chữ POCARI SWEAT và 01 chai nước suối hiệu AQUAFINA lo i 500ml.
- Đề nghị tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 điện tho i di động hiệu Nokia màu đen; đã qua sử dụng; số Seri: 353423093190541; bên trong có gắn 01 thẻ sim số: 0908438613 của Võ Minh H sử dụng liên l c thực hiện hành vi ph m tội.
- Đề nghị hoàn trả vật chứng gồm:
+ Hoàn trả cho bị cáo Võ Minh H: 01 điện tho i di động hiệu OPPO Reno2F màu trắng: đã qua sử dụng: số IMEI 1: 867124045345170; số IMEI 2: 867124045345162, gắn 01 thẻ sim số: 0358059234; 01 áo sơ mi dài tay, sọc caro màu trắng đen và 01 (một) quần short Jean màu xanh - đen là đồ cá nhân của Võ Minh H mặc trên ngư i khi thực hiện hành vi ph m tội; 01 giấy phép lái xe h ng C số 790 151 108082 mang tên Võ Minh H, do Sở giao thông vận tải thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 13/4/2020.
+ Hoàn trả cho Hồ Minh Hg 01 xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA, số lo i CAMRY, màu sơn xanh đen, số máy 5S4205436, số khung SK200X778176, biển kiểm soát 51H-645.94; vỏ bọc vô lăng hình tròn, màu xanh-đen được lấy ra từ vô lăng xe ôtô 51H-645.94; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ôtô số 579526 do Phòng Cảnh sát giao thông Công an thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 27/6/2020; 01 giấy chứng nhận kiểm định số 7049621 do Trung tâm đăng kiểm xe cơ giới số 50-06V cấp ngày 04/05/2021.
T i phiên tòa bị cáo không có ý kiến tranh luận.
T i l i nói sau cùng, bị cáo xin giảm nhẹ hình ph t do hoàn cảnh gia đình khó khăn, bị cáo là lao động chính trong nhà, bị cáo cam kết không thực hiện hành vi ph m pháp luật nữa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng t i phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tân T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và t i phiên tòa, bị cáo và những ngư i tham gia tố tụng khác không có ngư i nào có ý kiến hoặc khiếu n i về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngư i tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngư i tiến hành tố tụng thực hiện đều phù hợp quy định pháp luật.
T i phiên tòa, bị cáo Võ Minh H khai nhận hành vi ph m tội của mình như nội dụng bản cáo tr ng, phù hợp với l i khai của bị cáo t i Cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra t i phiên tòa. Có đủ cơ sở xác định được: vì mục đích lợi ích cá nhân nên vào ngày 23/6/2021, Võ Minh H thực hiện hành vi điều khiển xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA, số lo i CAMRY, màu sơn xanh đen, biển kiểm soát 51H-645.94 để vận chuyển thuốc lá ngo i nhập lậu do ngư i đàn ông tên N (không rõ nhân thân, lai lịch) thuê, với tiền công vận chuyển 1.500.000 đồng/chuyến. Sau khi N, H nhận thuốc lá ở thị xã Kiến T, tỉnh Long A, H điều khiển xe chở thuốc lá đi giao theo yêu cầu của N đến huyện Duyên H, tỉnh Trà V. Đến khoảng 05 gi 45 phút ngày 24/6/2021, H điều khiển xe chở thuốc lá đi đến Ngã Ba giao nhau giữa Quốc lộ 62 và N2, thuộc ấp Cá T, xã Kiến B, huyện Tân T, tỉnh Long A, thì bị lực lượng Công an huyện Tân T phát hiện, t m giữ 3.999 bao thuốc lá điếu nhập lậu gồm: 500 bao hiệu SCOTT, 2.500 bao hiệu HERO, 999 bao hiệu JET. Hành vi của Võ Minh H đã ph m tội “Vận chuyển hàng cấm” theo quy định t i điểm e khoản 2 Điều 191 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Như vậy, cáo tr ng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân T, tỉnh Long A truy tố bị cáo Võ Minh H với tội danh và điều luật trên là có căn cứ, đúng ngư i, đúng tội và đúng pháp luật.
Hành vi ph m tội của bị cáo được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, bị cáo nhận thức được việc vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu là vi ph m pháp luật, nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo đã xâm ph m đến chế độ quản lý hàng hóa mà nhà nước cấm lưu thông, cấm kinh doanh, xâm ph m đến trật tự quản lý kinh tế. Do đó hành vi ph m tội của bị cáo cần phải được xử ph t một cách thỏa đáng mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[4] Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo theo quy định t i Điều 52 Bộ luật hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo theo quy định t i Điều 51 Bộ luật hình sự: Bị cáo Võ Minh H thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải được nên được hưởng hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định t i điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bên c nh đó, thấy rằng bị cáo H lần đầu thực hiện hành vi ph m tội, sau khi thực hiện hành vi ph m tội bị cáo đã đầu thú. Ngoài ra, xét thấy cha của bị cáo là ông Võ Văn M có tham gia nghĩa vụ quân sự kinh tế - quốc phòng xuất ngũ năm 1986; đồng th i, gia đình bị cáo có đơn xin xác nhận và có xác nhận của UBND xã An Ninh T, huyện Đức H xác nhận hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn. Do đó, bị cáo còn được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định t i khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ; có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; bị cáo có nơi cư trú rõ ràng (ấp An Thủy, xã An Ninh T, huyện Đức H, tỉnh Long A), t i địa phương xác nhận bị cáo và gia đình luôn chấp hành tốt chủ trương, chính sách pháp luật t i địa phương. Do đó, việc áp dụng hình ph t tù cho hưởng án treo dưới sự giám sát của chính quyền địa phương đối với bị cáo cũng có tác dụng giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung.
Từ phân tích trên, xét l i đề nghị của Kiểm sát viên về áp dụng hình ph t tù cho hưởng án treo đối với bị cáo Võ Minh H là phù hợp nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Sau khi sự việc ph m tội xảy ra, bị cáo Võ Minh H đã bị t m giữ, t m giam cho đến nay. Do bị cáo đủ điều kiện áp dụng hình ph t tù nhưng cho hưởng án treo nên xét thấy cần áp dụng Điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự trả tự do cho bị cáo t i phiên tòa.
Về hình ph t bổ sung: đối với tội “Vận chuyển hàng cấm”, bị cáo còn có thể bị ph t tiền theo khoản 4 điều 191 BLHS. Tuy nhiên, xét thấy hiện hoàn cảnh kinh tế gia đình bị cáo có khó khăn, bị cáo có nghề nghiệp làm thuê, thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình ph t bổ sung là hình ph t tiền đối với bị cáo.
Đối với ngư i đàn ông tên N (không rõ nhân thân, lai lịch) thuê bị cáo H vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu, N kêu 01 ngư i thanh niên tên B (không rõ nhân thân, lai lịch) cùng đi vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu với H và 02 ngư i đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch) giao thuốc lá điếu nhập lậu cho N. Cơ quan CSĐT Công an huyện Tân T không xác định được nhân thân, lai lịch của 04 ngư i này nên không có đủ căn cứ tách vụ án để điều tra, xử lý theo quy định pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử không có cơ sở xem xét xử lý trong vụ án.
Đối với anh Hồ Minh Hg là chủ sở hữu xe ô tô tải, hiệu TOYOTA, số lo i CAMRY, biển số 51H-645.94. Có cơ sở xác định: Khoảng cuối năm 2020, Hg quen biết N và biết N có bằng lái xe ô tô nên Hg thuê N làm tài xế ch y xe dịch vụ cho Hg nhưng Hg không biết rõ nhân thân, lai lịch của N. Đến ngày 22/6/2021, Hg cho Nô thuê xe ôtô 51H-645.94 trong th i h n 02 ngày với giá 500.000 đồng/ngày, N nêu mục đích thuê xe là để rước vợ con. Sau đó, N giao xe ô tô trên cho H điều khiển để thực hiện hành vi ph m tội “vận chuyển hàng cấm” nhưng anh Hg không biết nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không xử lý anh Hg là phù hợp quy định của pháp luật.
Về vật chứng: căn cứ quy định t i Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 45, 47 Bộ luật hình sự, xử lý vật chứng như sau:
Đối với xe ô tô tải, hiệu TOYOTA, số lo i CAMRY, biển số 51H-645.94, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ôtô số 579526 do Phòng Cảnh sát giao thông Công an thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 27/6/2020; 01 giấy chứng nhận kiểm định số 7049621 do Trung tâm đăng kiểm xe cơ giới số 50-06V cấp 04/05/2021 là tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của anh Hồ Minh Hg. Anh Hg không biết ngư i tên N và bị cáo H sử dụng xe ô tô trên để vận chuyển hàng cấm nên cần giao trả xe ô tô và các giấy t nêu trên trên cho anh Hồ Minh Hg.
Đối với số thuốc lá điếu nhập lậu đã thu giữ là 3.999 bao, gồm: 999 bao hiệu JET, 500 bao hiệu SCOTT, 2.500 bao hiệu HERO là vật chứng trong vụ án, là mặt hàng nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 điện tho i di động hiệu Nokia màu đen; đã qua sử dụng; số Seri: 353423093190541; bên trong có gắn 01 thẻ sim số: 0908438613 của Võ Minh H sử dụng liên l c thực hiện hành vi ph m tội, nên tịch thu sung ngân sách.
Đối với 01 điện tho i di động hiệu OPPO Reno2F màu trắng: đã qua sử dụng: số IMEI 1: 867124045345170; số IMEI 2: 867124045345162, gắn 01 thẻ sim số: 0358059234 của Võ Minh H không sử dụng để thực hiện hành vi ph m tội nên cần giao trả cho bị cáo H.
Đối với 01 chai nước suối, trên nắp chai có chữ POCARI SWEAT được thu giữ trên xe ôtô biển kiểm soát 51H-645 94; 01 chai nước suối hiệu AQUAFINA lo i 500ml, được thu giữ trên xe ôtô biển kiểm soát 51H-645.94 không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 áo sơ mi dài tay, sọc caro màu trắng đen và 01 (một) quần short Jean màu xanh - đen là đồ cá nhân của Võ Minh H mặc trên ngư i khi thực hiện hành vi ph m tội; 01 giấy phép lái xe h ng C số 790 151 108082 mang tên Võ Minh H, do Sở giao thông vận tải thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 13/4/2020 của Võ Minh H nên cần giao trả l i cho H.
Về án phí: Bị cáo Võ Minh H phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thư ng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Võ Minh H ph m tội “Vận chuyển hàng cấm”.
2. Căn cứ vào điểm e khoản 2 Điều 191; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50, Điều 38, Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015; Theo hướng dẫn Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 Tòa án nhân dân tối cao;
Xử ph t: bị cáo Võ Minh H 02 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Th i gian thử thách là 05 (năm) năm được tính từ ngày tuyên án (ngày 26/01/2022).
Giao bị cáo Võ Minh H cho Ủy ban nhân dân xã An Ninh T, huyện Đức H, tỉnh Long A để giám sát, giáo dục trong th i gian thử thách. Trư ng hợp ngư i được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong th i gian thử thách, nếu ngư i được hưởng án treo cố ý vi ph m nghĩa vụ 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc ngư i được hưởng án treo phải chấp hành hình ph t tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3. Áp dụng Điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự. Trả tự do ngay t i phiên tòa cho bị cáo Võ Minh H, nếu bị cáo H không bị t m giam về một tội ph m khác.
4. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 45, 47 Bộ luật hình sự;
4.1. Tịch thu tiêu hủy:
- 3.999 bao thuốc lá điếu nhập lậu gồm: 999 bao hiệu JET, 500 bao hiệu SCOTT, 2.500 bao hiệu HERO
- 01 chai nước suối, trên nắp chai có chữ POCARI SWEAT;
- 01 chai nước suối hiệu AQUAFINA lo i 500ml;
4.2. Tịch thu sung nộp ngân sách nhà nước: 01 điện tho i di động hiệu Nokia màu đen; đã qua sử dụng; số Seri: 353423093190541; bên trong có gắn 01 thẻ sim số: 0908438613.
4.3. Hoàn trả cho bị cáo Võ Minh H:
- 01 điện tho i di động hiệu OPPO Reno2F màu trắng: đã qua sử dụng: số IMEI 1: 867124045345170; số IMEI 2: 867124045345162, gắn 01 thẻ sim số: 0358059234.
- 01 áo sơ mi dài tay, sọc caro màu trắng đen và 01 (một) quần short Jean màu xanh – đen.
- 01 giấy phép lái xe h ng C số 790 151 108082 mang tên Võ Minh H, do Sở giao thông vận tải thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 13/4/2020.
4.4. Hoàn trả cho anh Hồ Minh Hg, là ngư i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: 01 xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA, số lo i CAMRY, màu sơn xanh đen, số máy 5S4205436, số khung SK200X778176, biển kiểm soát 51H-645.94; vỏ bọc vô lăng hình tròn, màu xanh-đen được lấy ra từ vô lăng xe ôtô 51H-645.94; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ôtô số 579526 do Phòng Cảnh sát giao thông Công an thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 27/6/2020; 01 giấy chứng nhận kiểm định số 7049621 do Trung tâm đăng kiểm xe cơ giới số 50-06V cấp ngày 04/05/2021.
Hiện tất cả vật chứng trên Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân T đang t m giữ theo Quyết định chuyển vật chứng số 26/QĐ-VKSTT, ngày 17/11/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân T và biên bản giao nhận vật chứng ngày 19/11/2021.
5. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ Luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thư ng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo Võ Minh H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo: Áp dụng các điều 331, 333 Bộ Luật tố tụng hình sự;
Bị cáo có quyền kháng cáo trong h n 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Ngư i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong h n 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: -TAND tỉnh Long A; - VKSND tỉnh Long A; - Sở tư pháp tỉnh Long A - VKSND huyện Tân T; - CA huyện Tân T; - Chi cục THADS huyện Tân T; - Bị cáo;Đương sự; - Lưu hồ sơ HỘI THẨM NHÂN DÂN | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm Phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Ngọc A T HẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |