- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Vũ B phạm tội “Cố ý gây thƣơng tích”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên; Điều 134 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LAI VUNG TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 03/2022/HS-ST Ngày: 09-02-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LAI VUNG, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Út.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Quang Kim Cúc, Nghề nghiệp: Nguyên là Giáo viên, Phó phòng GD-ĐT huyện Lai Vung.
Ông Nguyễn Phát Triển, Nghề nghiệp: Cán bộ hƣu trí.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Vinh là Thƣ ký Tòa án nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Mãi.
Ngày 09 tháng 02 năm 2022, tại Phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Lai Vung xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 72/2021/TLST-HS, ngày 03 tháng 11 năm 2021; theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 81/2021/QĐXXST-HS, ngày 27 tháng 12 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 18/2022/HSST-QĐ, ngày 21 tháng 01 năm 2022 đối với bị cáo:
Nguyễn Vũ B, sinh năm: 1992, tại Đồng Tháp; nơi cƣ trú: 226A/1, ấp T M 2, xã V T, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn D và bà Phạm Thị S; tiền án, tiền sự: không; tạm giữ: Từ ngày 15/5/2021 đến ngày 24/5/2021; tạm giam: Từ ngày 24/5/2021 đến nay. Bị cáo hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đồng Tháp.
(Bị cáo có mặt tại phiên tòa)
- Bị hại:
Nguyễn Văn T - sinh năm: 1978 (Nạn nhân đã chết); nơi cƣ trú: 224B/1, ấp T M 2, xã V T, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.
- Người đại diện hợp pháp của bị hại (Nguyễn Văn T):
1. Nguyễn Văn L - sinh năm: 1957 (cha bị hại); nơi cƣ trú: 224/1, ấp T M 2, xã V T, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.
Nguyễn Văn L ủy quyền cho: Nguyễn Thị T - sinh năm: 1987 (có mặt); nơi cƣ trú: 224B/1, ấp T M 2, xã V T, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.
2. Nguyễn Thị T - sinh năm: 1987 (vợ bị hại) (có mặt);
3. Nguyễn Hoài P - sinh năm: 2007 (con ruột bị hại) (có mặt);
4. Nguyễn Thị Hồng N - sinh năm: 2008 (con ruột bị hại) (có mặt);
Cùng nơi cƣ trú: 224B/1, ấp T M 2, xã V T, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện hợp pháp của Nguyễn Hoài P và Nguyễn Thị Hồng N:
Nguyễn Thị T - sinh năm: 1987 (mẹ ruột) (có mặt); nơi cƣ trú: 224B/1, ấp T M 2, xã V T, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Phạm Thị S - sinh năm: 1968 (có mặt); nơi cƣ trú: 226A/1, ấp T M 2, xã V T, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.
- Người làm chứng:
1. Phạm Thị Cúc E - sinh năm: 1977 (vắng mặt); nơi cƣ trú: 226/1, ấp T M 2, xã V T, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.
2. Nguyễn Văn T - sinh năm: 1979 (vắng mặt); nơi cƣ trú: ấp H Đ, xã T H, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.
3. Phạm Hải Q - sinh năm: 1992 (có mặt); nơi cƣ trú: 395/5, ấp H K, xã V T, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.
4. Đặng Thị Xuân L - sinh năm: 1982 (vắng mặt); nơi cƣ trú: ấp H B, xã L T, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.
5. Trƣơng Văn L - sinh năm: 1961 (có mặt); nơi cƣ trú: ấp T M 2, xã V T, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.
6. Trần Thị T - sinh năm: 1964 (có mặt); nơi cƣ trú: ấp H Đ, xã T H, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.
7. Lê Kim H - sinh năm: 1977 (có mặt); nơi cƣ trú: 350A, ấp T H, xã V T, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.
8. Nguyễn Thị Mỹ D - sinh năm: 1976 (có mặt); nơi cƣ trú: ấp T M 1, xã V T, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.
9. Lê Văn L - sinh năm: 1956 (có mặt); nơi cƣ trú: ấp H Đ, xã V T, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.
10. Dƣơng Văn L - sinh năm: 1964 (có mặt); nơi cƣ trú: 804/5, ấp H Đ, xã V T, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Nguyễn Vũ B và Nguyễn Văn T là anh em bạn dì ruột; khoảng 09 giờ ngày 15/5/2021, B đến nhà anh T, tọa lạc số 224B/1, ấp T M 2, xã V T, huyện Lai Vung uống rƣợu cùng với anh T và anh Nguyễn Văn T. Sau khi uống rƣợu đƣợc khoảng 30 phút, do bận công việc nên anh T đi về trƣớc, còn B ở lại uống rƣợu với anh T. Khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày, anh T nhờ B điều khiển xe mô tô chở anh T đến nhà bà Trần Thị T (mẹ vợ của anh T), tọa lạc ấp H Đ, xã V T, huyện Lai Vung để lấy cá đem về; khi về đến nhà anh T, cả 02 ngồi dƣới nền gạch đối diện với nhau tiếp tục uống rƣợu. Đến khoảng 12 giờ cùng ngày, B cảm thấy không còn khả năng uống rƣợu tiếp nên xin nghỉ, T không đồng ý. Lúc này, T chòm ngƣời về phía B đang ngồi, dùng hai tay bóp cổ B nên B dùng tay nắm lấy tay của anh T kéo ra. Trong lúc giằng co với nhau, B chụp lấy đƣợc 01 cây kéo B kim loại màu nâu đen để dƣới nền gạch, gần vị trí B đang ngồi, đâm 01 cái trúng vào vùng hông bên trái của anh T, theo hƣớng từ trên xuống dƣới, từ bên phải sang bên trái. Do bị đâm trúng, anh T buông B ra, thấy vết thƣơng trên ngƣời của anh T chảy máu nên B điều khiển xe mô tô biển số 70L5-6758 chở anh T đến Trạm y tế xã V T, huyện Lai Vung để băng bó vết thƣơng. Qua xem xét vết thƣơng, anh Phạm Hải Q và chị Đặng Thị Xuân L (nhân viên y tế) nhận thấy vết thƣơng có dấu hiệu nghiêm trọng, nên đã liên hệ xe cấp cứu chuyển anh T đến cơ sở y tế tuyến trên để điều trị, nhƣng anh T không đồng ý và cho biết sẽ tự mình đi điều trị.
Sau đó, B điều khiển xe chở anh T về nhà, cả 02 tiếp tục ngồi trong nhà anh T uống đƣợc khoảng 02 đến 03 ly rƣợu thì anh T bỏ đi ra bên ngoài không quay trở lại nơi uống rƣợu. Lúc này, B đi tìm xung quanh thì phát hiện anh T đã bất tỉnh trong nhà vệ sinh nên chạy đến nhà bà Phan Thị Cúc E (mợ tám của B) nhờ bà Cúc E kêu xe chở anh T đi cấp cứu. Đồng thời, B điện Tại thông báo cho mẹ ruột là bà Phạm Thị S biết, đã dùng kéo đâm anh T gây thƣơng tích. Do thƣơng tích nặng nên anh T đã tử vong tại Bệnh viện đa khoa Sa Đéc. Đến khoảng 15 giờ 10 phút cùng ngày, B đến Công an xã V T, huyện Lai Vung đầu thú.
Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tạm giữ các vật chứng, tài sản, đồ vật gồm:
+ 01 cây kéo B kim loại màu nâu đen, chiều dài 23cm, cán đƣợc bọc nhựa màu đen, lƣỡi kéo dài 14,2cm, nơi rộng nhất 03cm, trên lƣỡi kéo có dòng chữ X H.
+ Nhiều dấu vết màu nâu đỏ dạng nhỏ giọt trên nền nhà vào 03 miếng gạc y tế.
+ Máu thấm gạc và 10ml máu chứa trong ống tiêm của tử thi Nguyễn Văn T.
+ Tóc, niêm mạc miệng, 03ml máu và móng tay của Nguyễn Vũ B.
+ 01 điện Tại di động loại bàn phím, nhãn hiệu Nokia màu đen (chƣa kiểm tra chất lƣợng bên trong); 01 cái quần Jean lửng màu xanh; 01 cái áo thun có bâu, tay ngắn màu đen của Nguyễn Vũ B.
+ 01 đĩa CD - R80 MQ màu vàng đồng, bên trong có chứa nội dung ghi âm khi hỏi cung bị can Nguyễn Vũ B vào ngày 22/9/2021 và 01 đoạn Video ghi lại hình ảnh bị can B thực hiện lại hành vi dùng kéo đâm gây thƣơng tích cho anh Nguyễn Văn T thông qua hoạt động thực nghiệm điều tra vào ngày 23/9/2021.
Tại bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 235/TgT-TTPY ngày 15/5/2021 của Trung tâm pháp y thuộc Sở y tế Đồng Tháp, kết luận đối với Nguyễn Văn T:
1. Dấu hiệu chính qua giám định:
- Qua khám nghiệm nạn nhân Nguyễn Văn T, sinh năm 1978 có tổn thƣơng sau:
+ Vết thƣơng đƣờng nách sau khoang liên sƣờn V - VI bên trái, xuyên thấu thành ngực.
+ Hai phổi xẹp co rút về rốn phổi.
+ Trong khoang ngực trái chứa máu cục lẫn máu loãng màu đỏ sẫm.
+ Mặt sau thùy dƣới phổi trái thủng 01 lỗ, xung quanh tổ chức sung huyết.
+ Thành bên mạn sƣờn trái tƣơng ứng đƣờng nách sau có vết thƣơng xuyên thấu.
+ Trong màng tim chứa dịch màu vàng chanh.
2. Kết luận nguyên nhân chết:
- Nạn nhân chết do: Suy hô hấp tối cấp/Lao.
3. Thời gian chết: Tử thi chết dƣới 24 giờ.
Tại Kết luận giám định số 568/KL-KTHS ngày 07/6/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Tháp, kết luận:
- Mẫu máu chứa trong kim tiêm ghi thu của ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1978, đƣợc thu giữ vào lúc 18 giờ 15 phút đến 18 giờ 20 phút ngày 15/5/2021 tại Bệnh viện đa khoa sa Đéc, tại thời điểm giám định ngày 01/6/2021 có chứa thành phần cồn (Ethanol), nồng độ 410,6mg/100ml máu.
Tại Kết luận giám định số 569/KL-KTHS ngày 07/6/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Tháp, kết luận:
- Mẫu máu chứa trong ống kim tiêm ghi thu của ông Nguyễn Vũ B, sinh năm 1992, đƣợc thu giữ và niêm phong từ lúc 15 giờ 50 phút đến 16 giờ ngày 15/5/2021 tại Công an xã V T, huyện Lai Vung, tại thời điểm giám định ngày 01/6/2021 có chứa thành phần cồn (Ethanol), nồng độ 176,2mg/100ml máu.
Tại Kết luận giám định số 584/KL-KTHS ngày 10/6/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Tháp, kết luận:
- Mẫu máu trong ống kim tiêm ghi “Máu của Nguyễn Vũ B” thuộc nhóm máu A.
- Mẫu máu trong ống kim tiêm ghi “Máu của Nguyễn Văn T” thuộc nhóm máu A.
Tại Kết luận giám định số 592/KL-KTHS ngày 12/6/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Tháp, kết luận:
- Trên 03 miếng gạc ghi “2.1”, “2.2”, “2.3” có dính máu ngƣời thuộc nhóm máu A.
- Trên cây kéo có dính máu ngƣời, do dấu vết ít nên không xác định nhóm máu.
Tại bản cáo trạng số 65/CT-VKSLVg, ngày 29/10/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lai Vung, đã truy tố Nguyễn Vũ B ra trƣớc Toà án nhân dân huyện Lai Vung, để xét xử về tội “Cố ý gây thƣơng tích” theo điểm a khoản 4 Điều 134 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
- Bị cáo Nguyễn Vũ B đã khai nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện phù hợp với nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lai Vung truy tố bị cáo về tội “Cố ý gây thƣơng tích”.
- Đại diện hợp pháp cho bị hại Nguyễn Văn T là ông Nguyễn Văn L, chị Nguyễn Thị T, Nguyễn Hoài P và Nguyễn Thị Hồng N; chị T cũng là đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Văn L và là đại diện hợp pháp của Nguyễn Hoài P và Nguyễn Thị Hồng N trình bày: Chị là vợ bị hại T, ngày 15/5/2021 anh T bị B đâm gây thƣơng tích và tử vong đúng nhƣ nội dung cáo trạng đã nêu, gia đình chị đã nhận 20.000.000 đồng tiền hỗ trợ chi phí mai táng của mẹ ruột bị cáo B là bà Phạm Thị S. Chị không yêu cầu bị cáo B bồi thƣờng gì thêm, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và không trình bày gì thêm khác.
- Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Phạm Thị S trình bày: Bà là mẹ ruột của bị cáo B, bà có xuất ra số tiền 20.000.000 đồng để hỗ trợ chi phí mai táng cho gia đình bị hại T thay cho bị cáo B, bà không yêu cầu B trả lại cho bà số tiền nêu trên, ngoài ra không trình bày gì thêm.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội: Khẳng định việc truy tố đúng nhƣ cáo trạng đã nêu là đúng ngƣời, đúng tội, đúng pháp luật; Do có mâu thuẫn nhau trong quá trình uống rƣợu tại nhà của anh Nguyễn Văn T ở số 224B/1, ấp T M 2, xã V T, huyện Lai Vung. Khoảng 12 giờ ngày 15/5/2021, bị cáo Nguyễn Vũ B đã có hành vi sử dụng cây kéo B kim loại màu nâu đen, chiều dài 23cm, cán đƣợc bọc nhựa màu đen, lƣỡi kéo dài 14,2cm, nơi rộng nhất 03cm, trên lƣỡi kéo có dòng chữ X H là hung khí nguy hiểm, đâm 01 cái trúng vào đƣờng nách sau khoang liên sƣờn V - VI bên trái, xuyên thấu thành ngực của anh Nguyễn Văn T, làm cho anh T bị suy hô hấp tối cấp dẫn đến tử vong. Khi thực hiện hành vi bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, sau khi sự việc xảy ra đã đến chính quyền địa phƣơng đầu thú, tích cực tác động gia đình bồi thƣờng thiệt hại, khắc phục hậu quả đã gây ra, đại diện theo pháp luật của bị hại có đơn yêu cầu xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, tại phiên tòa cũng xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 4 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, tuyên bố bị cáo Nguyễn Vũ B phạm tội “Cố ý gây thƣơng tích”, xử phạt bị cáo Nguyễn Vũ B từ 07 năm đến 08 năm tù giam.
- Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy:
+ 01 cây kéo B kim loại màu nâu đen, chiều dài 23cm, cán đƣợc bọc nhựa màu đen, lƣỡi kéo dài 14,2cm, nơi rộng nhất 03cm, trên lƣỡi kéo có dòng chữ Xuân Hƣơng là công cụ dùng vào việc phạm tội, do không còn giá trị sử dụng.
+ Tóc, niêm mạc miệng của Nguyễn Vũ B đƣợc để trong 01 bịch nylon; móng tay của Nguyễn Văn T đƣợc để trong 01 bịch nylon; 01 cái quần Jean lửng màu xanh; 01 cái áo thun có bâu, tay ngắn màu đen của Nguyễn Vũ B là các đồ vật không còn giá trị sử dụng.
+ Tiếp tục giao cho Chi cục thi hành án dân sự huyện quản lý 01 điện Tại di động loại bàn phím, nhãn hiệu Nokia màu đen (chƣa kiểm tra chất lƣợng bên trong) đƣợc niêm phong theo quy định của bị cáo Nguyễn Vũ B không liên quan đến hành vi phạm tội để đảm bảo thi hành án.
(Hiện vật chứng nêu trên do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lai Vung đang quản lý).
Đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục quản lý:
- Lƣu vào hồ sơ 01 đĩa CD - R80 MQ màu vàng đồng, bên trong có chứa nội dung ghi âm lời khai bị cáo Nguyễn Vũ B vào ngày 22/9/2021 và 01 đoạn Video ghi lại hình ảnh bị cáo B thực hiện lại hành vi dùng kéo đâm gây thƣơng tích cho anh Nguyễn Văn T thông qua hoạt động thực nghiệm điều tra vào ngày 23/9/2021 để đảm bảo cho việc xét xử.
Bị cáo Nguyễn Vũ B thống nhất với Bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lai Vung, không tranh luận gì. Bị cáo nói lời sau cùng yêu cầu Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên của huyện Lai Vung trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, đúng trình tự thủ tục của Bộ luật tố tụng hình sự quy định. Giai đoạn điều tra, truy tố cũng nhƣ tại phiên tòa những ngƣời tham gia tố tụng trong vụ án không có ý kiến, khiếu nại gì về hành vi, quyết định của các cơ quan, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó các chứng cứ, tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án là hợp pháp.
Về hành vi của bị cáo: Bị cáo Nguyễn Vũ B đã có hành vi sử dụng cây kéo B kim loại màu nâu đen, chiều dài 23cm, cán đƣợc bọc nhựa màu đen, lƣỡi kéo dài 14,2cm, nơi rộng nhất 03cm, trên lƣỡi kéo có dòng chữ X H là hung khí nguy hiểm, đâm 01 cái trúng vào đƣờng nách sau khoang liên sƣờn V - VI bên trái, xuyên thấu thành ngực của anh Nguyễn Văn T, làm cho anh T bị suy hô hấp tối cấp dẫn đến tử vong; lời nhận tội của bị cáo đúng với hiện trƣờng vụ án, vật chứng thu giữ, phù hợp với lời khai ngƣời đại diện hợp pháp của bị hại, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và ngƣời làm chứng cùng các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, do đó lời nhận tội của bị cáo là có căn cứ. Bị cáo thực hiện tội phạm với lỗi cố ý, khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và nhận thức rõ hành vi của mình là trái pháp luật. Nên hành vi của bị cáo Nguyễn Vũ B có đầy đủ các yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thƣơng tích” theo điểm a khoản 4 Điều 134 của Bộ luật hình sự.
Tại khoản 1, điểm a khoản 4 Điều 134 của Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
………………………
4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 14 năm:
a) Làm chết người; …”.
Về tính chất, mức độ tội phạm: Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hƣởng đến tình hình trật tự, trị an ở địa phƣơng, kỷ cƣơng pháp luật, xâm phạm sức khỏe, tính mạng của ngƣời khác một cách trái pháp luật, sức khỏe, tính mạng là vốn quý nhất của con ngƣời, là khách thể đƣợc luật hình sự bảo vệ, nghiêm cấm mọi hành vi xâm phạm đến, thế nhƣng vì ý thức xem thƣờng pháp luật mà bị cáo gây thƣơng tích cho bị hại và làm cho bị hại tử vong. Vì vậy việc đƣa bị cáo ra xét xử nhƣ ngày hôm nay là cần thiết, thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật.
Tính chất vụ án là rất nghiêm trọng, đã gây mất trật tự trị an ở địa phƣơng, làm ảnh hƣởng đến trật tự an toàn xã hội, bị cáo có ý thức xem thƣờng pháp luật. Vì vậy cần phải có một mức hình phạt tƣơng xứng đối với bị cáo nhằm mục đích răn đe, giáo dục phòng ngừa chung cho xã hội.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
- Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, sau khi sự việc xảy ra đã đến chính quyền địa phƣơng đầu thú, tích cực tác động gia đình bồi thƣờng thiệt hại, khắc phục hậu quả đã gây ra, cũng có một phần lỗi của bị hại, ngƣời đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, đây là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự; bị cáo B đƣợc hƣởng 02 tình tiết giảm nhẹ ở khoản 1 và có nhiều tình tiết giảm nhẹ ở khoản 2 của Điều 51 của Bộ luật hình sự, nên cần áp dụng thêm Điều 54 của Bộ luật hình sự cho bị cáo.
Kiểm sát viên đề nghị giải quyết nội dung vụ án này là đúng quy định pháp luật, nên Hội đồng xét xử đồng ý quan điểm của Kiểm sát viên; riêng phần hình phạt thì đề nghị quá nghiêm khắc đối với hành vi phạm tội của bị cáo B; trong vụ án này bị cáo B đƣợc hƣởng nhiều tình tiết giảm nhẹ ở Điều 51 của Bộ luật hình sự, nên Hội đồng xét xử cũng cần xem xét giảm mức hình phạt cho bị cáo theo Điều 54 của Bộ luật hình sự là đúng quy định pháp luật.
Những ngƣời làm chứng có mặt và vắng mặt tại phiên tòa, qua các lời khai là phù hợp và đúng nhƣ nội dung vụ án.
Về trách nhiệm dân sự:
Đại diện hợp pháp của bị hại đã nhận 20.000.000 đồng tiền bồi thƣờng từ mẹ ruột bị cáo (bà S); ngƣời đại diện hợp pháp cho bị hại và ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị S không yêu cầu bị cáo gì thêm nên Hội đồng xét xử không đặt thành vấn đề xem xét giải quyết.
Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy:
+ 01 (một) cây kéo B kim loại màu đen, dài 23cm, cán kéo đƣợc bọc nhựa màu đen, lƣỡi kéo dài 14,2cm, trên lƣỡi kéo có dòng chữ “XUÂN HƢƠNG” đƣợc niêm phong trên gói niêm phong có đóng dấu tròn màu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự-Công an tỉnh Đồng Tháp và các chữ ký ghi họ tên Phạm Ngọc T và Nguyễn Trung T, là công cụ dùng vào việc phạm tội và không còn giá trị sử dụng.
+ Mẫu tóc và niêm mạc miệng của Nguyễn Vũ B (đã niêm phong có dấu tròn đỏ của Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Đồng Tháp), móng tay của Nguyễn Văn T; 01 (một) cái quần Jean lửng màu xanh; 01(một) áo thun màu đen có bâu, tay ngắn; 01 (một) quần đùi màu xanh, là các đồ vật không còn giá trị sử dụng.
- Trả cho bị cáo Nguyễn Vũ B: 01 (một) điện Tại di động hiệu Nokia màu đen, loại bàn phím đã qua sử dụng, do không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo; nhƣng giao Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lai Vung tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án.
(Hiện vật chứng nêu trên do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lai Vung đang quản lý).
- Tiếp tục lƣu hồ sơ vụ án: 01 đĩa CD - R80 MQ màu vàng đồng, bên trong có chứa nội dung ghi âm lời khai bị cáo Nguyễn Vũ B vào ngày 22/9/2021 và 01 đoạn Video ghi lại hình ảnh bị cáo B thực hiện lại hành vi dùng kéo đâm gây thƣơng tích cho anh Nguyễn Văn T thông qua hoạt động thực nghiệm điều tra vào ngày 23/9/2021.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại và ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đƣợc quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 134; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 54 của Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Vũ B phạm tội “Cố ý gây thƣơng tích”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Vũ B 06 (sáu) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ ngày 15/5/2021.
2. Về xử lý vật chứng và tài sản thu giữ: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự tuyên:
- Tịch thu tiêu hủy:
+ 01 (một) cây kéo B kim loại màu đen, dài 23cm, cán kéo đƣợc bọc nhựa màu đen, lƣỡi kéo dài 14,2cm, trên lƣỡi kéo có dòng chữ “X H” đƣợc niêm phong trên gói niêm phong có đóng dấu tròn màu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự-Công an tỉnh Đồng Tháp và các chữ ký ghi họ tên Phạm Ngọc T và Nguyễn Trung T.
+ Mẫu tóc và niêm mạc miệng của Nguyễn Vũ B (đã niêm phong có dấu tròn đỏ của Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Đồng Tháp), móng tay của Nguyễn Văn T; 01 (một) cái quần Jean lửng màu xanh; 01(một) áo thun màu đen có bâu, tay ngắn; 01 (một) quần đùi màu xanh.
- Trả cho bị cáo Nguyễn Vũ B: 01 (một) điện Tại di động hiệu Nokia màu đen, loại bàn phím đã qua sử dụng, nhƣng giao Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lai Vung tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án.
(Hiện vật chứng nêu trên do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lai Vung đang quản lý).
- Tiếp tục lƣu hồ sơ vụ án: 01 đĩa CD - R80 MQ màu vàng đồng, bên trong có chứa nội dung ghi âm lời khai bị cáo Nguyễn Vũ B vào ngày 22/9/2021 và 01 đoạn Video ghi lại hình ảnh bị cáo B thực hiện lại hành vi dùng kéo đâm gây thƣơng tích cho anh Nguyễn Văn T thông qua hoạt động thực nghiệm điều tra vào ngày 23/9/2021.
3. Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Vũ B phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại và ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đƣợc kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án ngày 09/02/2022.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh ĐT; - VKSND tỉnh ĐT; - VKSND H.Lai Vung; - CCTHA-DS H.Lai Vung; - Cơ quan điều tra H. Lai Vung; - Cơ quan THAHS H. Lai Vung; - Sở tƣ pháp; - Bị cáo, các đƣơng sự; - Lƣu HS, AV. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Nguyễn Văn Út |