vanban.org

Bản án 03/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 09/02/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Vũ B phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Vũ B 06 (sáu) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ ngày 15/5/2021. Về xử lý vật chứng và tài sản thu giữ: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự tuyên: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Vũ B phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên; Điều 134 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LAI VUNG
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2022/HS-ST
Ngày: 09-02-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LAI VUNG, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Út.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Quang Kim Cúc, Nghề nghiệp: Nguyên là Giáo viên, Phó phòng GD-ĐT huyện Lai Vung.

Ông Nguyễn Phát Triển, Nghề nghiệp: Cán bộ hưu trí.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Vinh là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Mãi.

Ngày 09 tháng 02 năm 2022, tại Phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Lai Vung xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 72/2021/TLST-HS, ngày 03 tháng 11 năm 2021; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 81/2021/QĐXXST-HS, ngày 27 tháng 12 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 18/2022/HSST-QĐ, ngày 21 tháng 01 năm 2022 đối với bị cáo:

Nguyễn Vũ B, sinh năm: 1992, tại Đồng Tháp; nơi cư trú: 226A/1, ấp TM2, xã VT, huyện LV, tỉnh ĐT; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Dvà bà Phạm Thị S; tiền án, tiền sự: không; tạm giữ: Từ ngày 15/5/2021 đến ngày 24/5/2021; tạm giam: Từ ngày 24/5/2021 đến nay. Bị cáo hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đồng Tháp.

(Bị cáo có mặt tại phiên tòa)

- Bị hại:

Nguyễn Văn T- sinh năm: 1978 (Nạn nhân đã chết); nơi cư trú: 224B/1, ấp

TM2, xã VT, huyện LV, tỉnh ĐT.

- Người đại diện hợp pháp của bị hại (Nguyễn Văn T):

1. Nguyễn Văn L- sinh năm: 1957 (cha bị hại); nơi cư trú: 224/1, ấp TM2, xã VT, huyện LV, tỉnh ĐT.

Nguyễn Văn L quyền cho: Nguyễn Thị T- sinh năm: 1987 (có mặt); nơi cư trú: 224B/1, ấp TM2, xã VT, huyện LV, tỉnh ĐT.

2. Nguyễn Thị T- sinh năm: 1987 (vợ bị hại) (có mặt);

3. Nguyễn Hoài P- sinh năm: 2007 (con ruột bị hại) (có mặt);

4. Nguyễn Thị Hồng N- sinh năm: 2008 (con ruột bị hại) (có mặt);

Cùng nơi cư trú: 224B/1, ấp TM2, xã VT, huyện LV, tỉnh ĐT.

Người đại diện hợp pháp của Nguyễn Hoài Pvà Nguyễn Thị Hồng N:

Nguyễn Thị T- sinh năm: 1987 (mẹ ruột) (có mặt); nơi cư trú: 224B/1, ấp TM2, xã VT, huyện LV, tỉnh ĐT.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Phạm Thị S - sinh năm: 1968 (có mặt); nơi cư trú: 226A/1, ấp TM2, xã VT, huyện LV, tỉnh ĐT.

- Người làm chứng:

1. Phạm Thị Cúc E- sinh năm: 1977 (vắng mặt); nơi cư trú: 226/1, ấp TM2, xã VT, huyện LV, tỉnh ĐT

2. Nguyễn Văn T- sinh năm: 1979 (vắng mặt); nơi cư trú: ấp HĐ, xã TH, huyện LV, tỉnh ĐT.

3. Phạm Hải Q- sinh năm: 1992 (có mặt); nơi cư trú: 395/5, ấp HK, xã VT, huyện LV, tỉnh ĐT.

4. Đặng Thị Xuân L- sinh năm: 1982 (vắng mặt); nơi cư trú: ấp HB, xã LT, huyện LV, tỉnh ĐT.

5. Trương Văn L- sinh năm: 1961 (có mặt); nơi cư trú: ấp TM2, xã VT, huyện LV, tỉnh ĐT

6. Trần Thị T- sinh năm: 1964 (có mặt); nơi cư trú: ấp HĐ, xã TH, huyện LV, tỉnh ĐT.

7. Lê Kim H- sinh năm: 1977 (có mặt); nơi cư trú: 350A, ấp TH, xã VT, huyện LV, tỉnh ĐT.

8. Nguyễn Thị Mỹ D- sinh năm: 1976 (có mặt); nơi cư trú: ấp TM1, xã VT, huyện LV, tỉnh ĐT.

9. Lê Văn L- sinh năm: 1956 (có mặt); nơi cư trú: ấp HĐ, xã VT, huyện LV, tỉnh ĐT.

10. - sinh năm: 1964 (có mặt); nơi cư trú: 804/5, ấp HĐ, xã VT, huyện LV, tỉnh ĐT.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Vũ B và Nguyễn Văn Tlà anh em bạn dì ruột; khoảng 09 giờ ngày 15/5/2021, B đến nhà anh T, tọa lạc số 224B/1, ấp TM2, xã VT, huyện LV uống rượu cùng với anh T và anh Nguyễn Văn T. Sau khi uống rượu được khoảng 30 phút, do bận công việc nên anh T đi về trước, còn B ở lại uống rượu với anh T. Khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày, anh T nhờ B điều khiển xe mô tô chở anh T đến nhà bà Trần Thị T(mẹ vợ của anh T), tọa lạc ấp HĐ, xã VT, huyện LV để lấy cá đem về; khi về đến nhà anh T, cả 02 ngồi dưới nền gạch đối diện với nhau tiếp tục uống rượu. Đến khoảng 12 giờ cùng ngày, B cảm thấy không còn khả năng uống rượu tiếp nên xin nghỉ, T không đồng ý. Lúc này, T chòm người về phía B đang ngồi, dùng hai tay bóp cổ B nên B dùng tay nắm lấy tay của anh T kéo ra. Trong lúc giằng co với nhau, B chụp lấy được 01 cây kéo B kim loại màu nâu đen để dưới nền gạch, gần vị trí B đang ngồi, đâm 01 cái trúng vào vùng hông bên trái của anh T, theo hướng từ trên xuống dưới, từ bên phải sang bên trái. Do bị đâm trúng, anh T buông B ra, thấy vết thương trên người của anh T chảy máu nên B điều khiển xe mô tô biển số 70L5-6758 chở anh T đến Trạm y tế xã Vĩnh Thới, huyện Lai Vung để băng bó vết thương. Qua xem xét vết thương, anh Phạm Hải Qvà chị Đặng Thị Xuân L(nhân viên y tế) nhận thấy vết thương có dấu hiệu nghiêm trọng, nên đã liên hệ xe cấp cứu chuyển anh T đến cơ sở y tế tuyến trên để điều trị, nhưng anh T không đồng ý và cho biết sẽ tự mình đi điều trị.

Sau đó, B điều khiển xe chở anh T về nhà, cả 02 tiếp tục ngồi trong nhà anh T uống được khoảng 02 đến 03 ly rượu thì anh T bỏ đi ra bên ngoài không quay trở lại nơi uống rượu. Lúc này, B đi tìm xung quanh thì phát hiện anh T đã bất tỉnh trong nhà vệ sinh nên chạy đến nhà bà Phan Thị Cúc Em (mợ tám của B) nhờ bà Cúc Em kêu xe chở anh T đi cấp cứu. Đồng thời, B điện thoại thông báo cho mẹ ruột là bà Phạm Thị S biết, đã dùng kéo đâm anh T gây thương tích. Do thương tích nặng nên anh T đã tử vong tại Bệnh viện đa khoa Sa Đéc. Đến khoảng 15 giờ 10 phút cùng ngày, B đến Công an xã Vĩnh Thới, huyện Lai Vung đầu thú.

Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tạm giữ các vật chứng, tài sản, đồ vật gồm:

+ 01 cây kéo B kim loại màu nâu đen, chiều dài 23cm, cán được bọc nhựa màu đen, lưỡi kéo dài 14,2cm, nơi rộng nhất 03cm, trên lưỡi kéo có dòng chữ Xuân Hương.

+ Nhiều dấu vết màu nâu đỏ dạng nhỏ giọt trên nền nhà vào 03 miếng gạc y tế.

+ Máu thấm gạc và 10ml máu chứa trong ống tiêm của tử thi Nguyễn Văn T.

+ Tóc, niêm mạc miệng, 03ml máu và móng tay của Nguyễn Vũ B.

+ 01 điện thoại di động loại bàn phím, nhãn hiệu Nokia màu đen (chưa kiểm tra chất lượng bên trong); 01 cái quần Jean lửng màu xanh; 01 cái áo thun có bâu, tay ngắn màu đen của Nguyễn Vũ B.

+ 01 đĩa CD - R80 MQ màu vàng đồng, bên trong có chứa nội dung ghi âm khi hỏi cung bị can Nguyễn Vũ B vào ngày 22/9/2021 và 01 đoạn Video ghi lại hình ảnh bị can B thực hiện lại hành vi dùng kéo đâm gây thương tích cho anh Nguyễn Văn Tthông qua hoạt động thực nghiệm điều tra vào ngày 23/9/2021.

Tại bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 235/TgT-TTPY ngày 15/5/2021 của Trung tâm pháp y thuộc Sở y tế Đồng Tháp, kết luận đối với Nguyễn Văn T:

1. Dấu hiệu chính qua giám định:

- Qua khám nghiệm nạn nhân Nguyễn Văn T, sinh năm 1978 có tổn thương sau:

+ Vết thương đường nách sau khoang liên sườn V - VI bên trái, xuyên thấu thành ngực.

+ Hai phổi xẹp co rút về rốn phổi.

+ Trong khoang ngực trái chứa máu cục lẫn máu loãng màu đỏ sẫm.

+ Mặt sau thùy dưới phổi trái thủng 01 lỗ, xung quanh tổ chức sung huyết.

+ Thành bên mạn sườn trái tương ứng đường nách sau có vết thương xuyên thấu.

+ Trong màng tim chứa dịch màu vàng chanh.

2. Kết luận nguyên nhân chết:

- Nạn nhân chết do: Suy hô hấp tối cấp/Lao.

3. Thời gian chết: Tử thi chết dưới 24 giờ.

Tại Kết luận giám định số 568/KL-KTHS ngày 07/6/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Tháp, kết luận:

- Mẫu máu chứa trong kim tiêm ghi thu của ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1978, được thu giữ vào lúc 18 giờ 15 phút đến 18 giờ 20 phút ngày 15/5/2021 tại Bệnh viện đa khoa sa Đéc, tại thời điểm giám định ngày 01/6/2021 có chứa thành phần cồn (Ethanol), nồng độ 410,6mg/100ml máu.

Tại Kết luận giám định số 569/KL-KTHS ngày 07/6/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Tháp, kết luận:

- Mẫu máu chứa trong ống kim tiêm ghi thu của ông Nguyễn Vũ B, sinh năm 1992, được thu giữ và niêm phong từ lúc 15 giờ 50 phút đến 16 giờ ngày 15/5/2021 tại Công an xã Vĩnh Thới, huyện Lai Vung, tại thời điểm giám định ngày 01/6/2021 có chứa thành phần cồn (Ethanol), nồng độ 176,2mg/100ml máu.

Tại Kết luận giám định số 584/KL-KTHS ngày 10/6/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Tháp, kết luận:

- Mẫu máu trong ống kim tiêm ghi “Máu của Nguyễn Vũ B” thuộc nhóm máu A.

- Mẫu máu trong ống kim tiêm ghi “Máu của Nguyễn Văn T” thuộc nhóm máu A.

Tại Kết luận giám định số 592/KL-KTHS ngày 12/6/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Tháp, kết luận:

- Trên 03 miếng gạc ghi “2.1”, “2.2”, “2.3” có dính máu người thuộc nhóm máu A.

- Trên cây kéo có dính máu người, do dấu vết ít nên không xác định nhóm máu.

Tại bản cáo trạng số 65/CT-VKSLVg, ngày 29/10/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lai Vung, đã truy tố Nguyễn Vũ B ra trước Toà án nhân dân huyện Lai Vung, để xét xử về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 4 Điều 134 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

- Bị cáo Nguyễn Vũ B đã khai nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện phù hợp với nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lai Vung truy tố bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích”.

- Đại diện hợp pháp cho bị hại Nguyễn Văn T là ông Nguyễn Văn L, chị Nguyễn Thị T, Nguyễn Hoài P và Nguyễn Thị Hồng N; chị Tho cũng là đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Văn Lvà là đại diện hợp pháp của Nguyễn Hoài Pvà Nguyễn Thị Hồng Ntrình bày: Chị là vợ bị hại T, ngày 15/5/2021 anh T bị B đâm gây thương tích và tử vong đúng như nội dung cáo trạng đã nêu, gia đình chị đã nhận 20.000.000 đồng tiền hỗ trợ chi phí mai táng của mẹ ruột bị cáo B là bà Phạm Thị S. Chị không yêu cầu bị cáo B bồi thường gì thêm, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và không trình bày gì thêm khác.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Phạm Thị S trình bày: Bà là mẹ ruột của bị cáo B, bà có xuất ra số tiền 20.000.000 đồng để hỗ trợ chi phí mai táng cho gia đình bị hại T thay cho bị cáo B, bà không yêu cầu B trả lại cho bà số tiền nêu trên, ngoài ra không trình bày gì thêm.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội: Khẳng định việc truy tố đúng như cáo trạng đã nêu là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; Do có mâu thuẫn nhau trong quá trình uống rượu tại nhà của anh Nguyễn Văn Tở số 224B/1, ấp TM2, xã VT, huyện LV. Khoảng 12 giờ ngày 15/5/2021, bị cáo Nguyễn Vũ B đã có hành vi sử dụng cây kéo B kim loại màu nâu đen, chiều dài 23cm, cán được bọc nhựa màu đen, lưỡi kéo dài 14,2cm, nơi rộng nhất 03cm, trên lưỡi kéo có dòng chữ Xuân Hương là hung khí nguy hiểm, đâm 01 cái trúng vào đường nách sau khoang liên sườn V - VI bên trái, xuyên thấu thành ngực của anh Nguyễn Văn T, làm cho anh T bị suy hô hấp tối cấp dẫn đến tử vong. Khi thực hiện hành vi bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, sau khi sự việc xảy ra đã đến chính quyền địa phương đầu thú, tích cực tác động gia đình bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả đã gây ra, đại diện theo pháp luật của bị hại có đơn yêu cầu xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, tại phiên tòa cũng xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 4 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, tuyên bố bị cáo Nguyễn Vũ B phạm tội “Cố ý gây thương tích”, xử phạt bị cáo Nguyễn Vũ B từ 07 năm đến 08 năm tù giam.

- Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong.

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy:

+ 01 cây kéo B kim loại màu nâu đen, chiều dài 23cm, cán được bọc nhựa màu đen, lưỡi kéo dài 14,2cm, nơi rộng nhất 03cm, trên lưỡi kéo có dòng chữ Xuân Hương là công cụ dùng vào việc phạm tội, do không còn giá trị sử dụng.

+ Tóc, niêm mạc miệng của Nguyễn Vũ B được để trong 01 bịch nylon; móng tay của Nguyễn Văn T được để trong 01 bịch nylon; 01 cái quần Jean lửng màu xanh; 01 cái áo thun có bâu, tay ngắn màu đen của Nguyễn Vũ B là các đồ vật không còn giá trị sử dụng.

+ Tiếp tục giao cho Chi cục thi hành án dân sự huyện quản lý 01 điện thoại di động loại bàn phím, nhãn hiệu Nokia màu đen (chưa kiểm tra chất lượng bên trong) được niêm phong theo quy định của bị cáo Nguyễn Vũ B không liên quan đến hành vi phạm tội để đảm bảo thi hành án.

(Hiện vật chứng nêu trên do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lai Vung đang quản lý).

Đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục quản lý:

- Lưu vào hồ sơ 01 đĩa CD - R80 MQ màu vàng đồng, bên trong có chứa nội dung ghi âm lời khai bị cáo Nguyễn Vũ B vào ngày 22/9/2021 và 01 đoạn Video ghi lại hình ảnh bị cáo B thực hiện lại hành vi dùng kéo đâm gây thương tích cho anh Nguyễn Văn Tthông qua hoạt động thực nghiệm điều tra vào ngày 23/9/2021 để đảm bảo cho việc xét xử.

Bị cáo Nguyễn Vũ B thống nhất với Bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lai Vung, không tranh luận gì. Bị cáo nói lời sau cùng yêu cầu Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên của huyện Lai Vung trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, đúng trình tự thủ tục của Bộ luật tố tụng hình sự quy định. Giai đoạn điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa những người tham gia tố tụng trong vụ án không có ý kiến, khiếu nại gì về hành vi, quyết định của các cơ quan, người tiến hành tố tụng. Do đó các chứng cứ, tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án là hợp pháp.

Về hành vi của bị cáo: Bị cáo Nguyễn Vũ B đã có hành vi sử dụng cây kéo B kim loại màu nâu đen, chiều dài 23cm, cán được bọc nhựa màu đen, lưỡi kéo dài 14,2cm, nơi rộng nhất 03cm, trên lưỡi kéo có dòng chữ Xuân Hương là hung khí nguy hiểm, đâm 01 cái trúng vào đường nách sau khoang liên sườn V - VI bên trái, xuyên thấu thành ngực của anh Nguyễn Văn T, làm cho anh T bị suy hô hấp tối cấp dẫn đến tử vong; lời nhận tội của bị cáo đúng với hiện trường vụ án, vật chứng thu giữ, phù hợp với lời khai người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng cùng các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, do đó lời nhận tội của bị cáo là có căn cứ. Bị cáo thực hiện tội phạm với lỗi cố ý, khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và nhận thức rõ hành vi của mình là trái pháp luật. Nên hành vi của bị cáo Nguyễn Vũ B có đầy đủ các yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 4 Điều 134 của Bộ luật hình sự.

Tại khoản 1, điểm a khoản 4 Điều 134 của Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

………………………

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 14 năm:

a) Làm chết người; …”.

Về tính chất, mức độ tội phạm: Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự, trị an ở địa phương, kỷ cương pháp luật, xâm phạm sức khỏe, tính mạng của người khác một cách trái pháp luật, sức khỏe, tính mạng là vốn quý nhất của con người, là khách thể được luật hình sự bảo vệ, nghiêm cấm mọi hành vi xâm phạm đến, thế nhưng vì ý thức xem thường pháp luật mà bị cáo gây thương tích cho bị hại và làm cho bị hại tử vong. Vì vậy việc đưa bị cáo ra xét xử như ngày hôm nay là cần thiết, thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật.

Tính chất vụ án là rất nghiêm trọng, đã gây mất trật tự trị an ở địa phương, làm ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội, bị cáo có ý thức xem thường pháp luật. Vì vậy cần phải có một mức hình phạt tương xứng đối với bị cáo nhằm mục đích răn đe, giáo dục phòng ngừa chung cho xã hội.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

- Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, sau khi sự việc xảy ra đã đến chính quyền địa phương đầu thú, tích cực tác động gia đình bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả đã gây ra, cũng có một phần lỗi của bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, đây là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự; bị cáo B được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ ở khoản 1 và có nhiều tình tiết giảm nhẹ ở khoản 2 của Điều 51 của Bộ luật hình sự, nên cần áp dụng thêm Điều 54 của Bộ luật hình sự cho bị cáo.

Kiểm sát viên đề nghị giải quyết nội dung vụ án này là đúng quy định pháp luật, nên Hội đồng xét xử đồng ý quan điểm của Kiểm sát viên; riêng phần hình phạt thì đề nghị quá nghiêm khắc đối với hành vi phạm tội của bị cáo B; trong vụ án này bị cáo B được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ ở Điều 51 của Bộ luật hình sự, nên Hội đồng xét xử cũng cần xem xét giảm mức hình phạt cho bị cáo theo Điều 54 của Bộ luật hình sự là đúng quy định pháp luật.

Những người làm chứng có mặt và vắng mặt tại phiên tòa, qua các lời khai là phù hợp và đúng như nội dung vụ án.

Về trách nhiệm dân sự:

Đại diện hợp pháp của bị hại đã nhận 20.000.000 đồng tiền bồi thường từ mẹ ruột bị cáo (bà Sáu); người đại diện hợp pháp cho bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị S không yêu cầu bị cáo gì thêm nên Hội đồng xét xử không đặt thành vấn đề xem xét giải quyết.

Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy:

+ 01 (một) cây kéo B kim loại màu đen, dài 23cm, cán kéo được bọc nhựa màu đen, lưỡi kéo dài 14,2cm, trên lưỡi kéo có dòng chữ “XUÂN HƯƠNG” được niêm phong trên gói niêm phong có đóng dấu tròn màu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự-Công an tỉnh Đồng Tháp và các chữ ký ghi họ tên Phạm Ngọc Trọng và Nguyễn Trung Tín, là công cụ dùng vào việc phạm tội và không còn giá trị sử dụng.

+ Mẫu tóc và niêm mạc miệng của Nguyễn Vũ B (đã niêm phong có dấu tròn đỏ của Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Đồng Tháp), móng tay của Nguyễn Văn T; 01 (một) cái quần Jean lửng màu xanh; 01(một) áo thun màu đen có bâu, tay ngắn; 01 (một) quần đùi màu xanh, là các đồ vật không còn giá trị sử dụng.

- Trả cho bị cáo Nguyễn Vũ B: 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia màu đen, loại bàn phím đã qua sử dụng, do không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo; nhưng giao Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lai Vung tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án.

(Hiện vật chứng nêu trên do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lai Vung đang quản lý).

- Tiếp tục lưu hồ sơ vụ án: 01 đĩa CD - R80 MQ màu vàng đồng, bên trong có chứa nội dung ghi âm lời khai bị cáo Nguyễn Vũ B vào ngày 22/9/2021 và 01 đoạn Video ghi lại hình ảnh bị cáo B thực hiện lại hành vi dùng kéo đâm gây thương tích cho anh Nguyễn Văn Tthông qua hoạt động thực nghiệm điều tra vào ngày 23/9/2021.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 134; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 54 của Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Vũ B phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Vũ B 06 (sáu) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ ngày 15/5/2021.

2. Về xử lý vật chứng và tài sản thu giữ: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự tuyên:

- Tịch thu tiêu hủy:

+ 01 (một) cây kéo B kim loại màu đen, dài 23cm, cán kéo được bọc nhựa màu đen, lưỡi kéo dài 14,2cm, trên lưỡi kéo có dòng chữ “XUÂN HƯƠNG” được niêm phong trên gói niêm phong có đóng dấu tròn màu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự-Công an tỉnh Đồng Tháp và các chữ ký ghi họ tên Phạm Ngọc Trọng và Nguyễn Trung Tín

+ Mẫu tóc và niêm mạc miệng của Nguyễn Vũ B (đã niêm phong có dấu tròn đỏ của Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Đồng Tháp), móng tay của Nguyễn Văn T; 01 (một) cái quần Jean lửng màu xanh; 01(một) áo thun màu đen có bâu, tay ngắn; 01 (một) quần đùi màu xanh.

- Trả cho bị cáo Nguyễn Vũ B: 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia màu đen, loại bàn phím đã qua sử dụng, nhưng giao Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lai Vung tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án.

(Hiện vật chứng nêu trên do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lai Vung đang quản lý).

- Tiếp tục lưu hồ sơ vụ án: 01 đĩa CD - R80 MQ màu vàng đồng, bên trong có chứa nội dung ghi âm lời khai bị cáo Nguyễn Vũ B vào ngày 22/9/2021 và 01 đoạn Video ghi lại hình ảnh bị cáo B thực hiện lại hành vi dùng kéo đâm gây thương tích cho anh Nguyễn Văn Tthông qua hoạt động thực nghiệm điều tra vào ngày 23/9/2021.

3. Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Vũ B phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án ngày 09/02/2022.

Cỡ chữ