vanban.org

Bản án 03/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang Tuyên án 26/01/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Phạm Hoài A phạm tội "Cố ý gây thương tích".

Xử phạt bị cáo Phạm Hoài A 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày vào chấp hành án. Về trách nhiệm dân sự: Miễm xét. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Hoài A phạm tội Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổ…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Hoài A phạm tội "Cố ý gây thương tích".
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN GÒ QUAO
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2022/HS-ST
Ngày 26-01-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ QUAO - TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Tôn.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Võ Văn Liềm.

2. Ông Danh Út Nhỏ.

- Thư ký phiên tòa: Ông Thái Vũ Đức, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Quao tham gia phiên tòa: Bà Thị Kim Lài, Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 33/2021/TLST-HS ngày 25 tháng 11 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2022/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 01 năm 2022 đối với bị cáo:

Phạm Hoài A (tên gọi khác: H), sinh ngày 28/7/1989, nơi sinh: Gò Quao - Kiên Giang. Nơi cư trú: ấp MH, xã VT, huyện G, tỉnh Kiên Giang; CMND số: 371631933; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: Mù chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn L và bà Võ Thị Th, bị cáo chưa có vợ con; anh chị em ruột có 07 người, lớn sinh năm 1980, nhỏ nhất sinh năm 1997. Tiền án: Không, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 44 ngày 13/10/2021 của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Gò Quao, có mặt.

Bị hại: Ông Nguyễn Thanh V (tự: VP), sinh năm 1975. Nơi cư trú: ấp TĐ, xã VT, huyện G, tỉnh Kiên Giang. Có mặt

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Võ Thị Th, sinh năm 1962. Nơi cư trú: ấp MH, xã VT, huyện G, tỉnh Kiên Giang. Có mặt

Người làm chứng:

- Chị Phan Thị Cẩm G, sinh năm 1995. Nơi cư trú: ấp MH, xã VT, huyện G, tỉnh Kiên Giang. Có đơn xin vắng mặt

- Ông Lâm Thanh V0, sinh năm 1969. Nơi cư trú: ấp LĐ, xã VT, huyện G, tỉnh Kiên Giang. Có đơn xin vắng mặt

- Ông Danh T, sinh năm 1978. Nơi cư trú: ấp 6, xã LN, huyện LM, tỉnh Hậu Giang. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ ngày 12/02/2021, Phạm Hoài A nhậu tại nhà ông Danh Quách H thuộc ấp Tân Đời, xã Vĩnh Tuy, huyện Gò Quao, Kiên Giang cùng với Lâm Thanh V0, Danh T, Phạm Huỳnh A1, Phan Thị Cẩm G. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày thì ông Nguyễn Thanh V đi vào nhậu chung và ngồi kế bên chị Cẩm G. Trong lúc nhậu, ông Nguyễn Thanh V cầm ly bia cụng trúng đùi chị Cẩm G 1 đến 2 lần, làm chị G phải tránh né sang một bên. Thấy vậy Phạm Hoài A nói “anh đừng có làm vậy, anh làm vậy một hồi cái ly bia còn quai không”. Nguyễn Thanh V không phản ứng gì mà dùng tay vuốt mặt Hoài A, nên Hoài A tức giận dùng tay trái cầm quai ly (ly thủy tinh- màu trắng loại ly uống bia) đánh ngang trúng trực diện vào vùng trán của Nguyễn Thanh V làm chảy máu. Sau đó thì được mọi người can ngăn đẩy Hoài A ra ngoài đường. Anh V được đưa đến Trạm y tế xã Vĩnh Tuy băng bó khâu vết thương, uống thuốc điều trị theo toa, đến ngày 19/3/2021 ông Nguyễn Thanh V gửi đơn yêu cầu khởi tố đến Cơ quan điều tra yêu cầu xử lý hành vi của bị cáo Phạm Hoài A theo quy định của pháp luật. Quá trình điều tra bị cáo Phan Hoài A bỏ trốn lên tỉnh Bình Dương làm thuê và bị truy nã, đến này 12/10/2021 bị cáo ra đầu thú.

Tại bản kết luận giám định số 199/TgT ngày 10 tháng 5 năm 2021 của Trung tâm pháp y Kiên Giang kết luận như sau:

- Dấu hiệu qua giám định:

Sẹo phần mềm vùng mặt (3 vết sẹo).

- Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 12 % (Mười hai phần trăm).

- Vật gây thương tích là: Vật có góc cạnh sắc.

Đối với hung khí là ly thủy tinh Cơ quan điều tra có truy tìm nhưng không thu được.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và gia đình khắc phục hậu quả theo yêu cầu của người bị hại với số tiền 60.000.000đ (Sáu mươi triệu đồng) và bị hại ông Nguyễn Thanh V không yêu cầu gì thêm.

Tại bản cáo trạng số 33/CT-VKSND-GQ ngày 25/11/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang đã truy tố bị cáo Phạm Hoài A về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung Cáo trạng. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã bồi thường khắc phục xong hậu quả cho bị hại theo biên nhận ngày 12/10/2021 và bị hại cũng có đơn xin rút lại yêu cầu khởi tố nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Về hình phạt: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, Điều 38, Điều 54 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Phạm Hoài A mức án từ 06 đến 09 tháng tù giam.

Về trách nhiệm dân sự: Gia đình của bị cáo đã bồi thường cho bị hại với số tiền 60.000.000 đồng, tại phiên tòa bị hại ông Nguyễn Thanh V không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên HĐXX miễn xét.

Bị cáo thừa nhận hành vi của mình như Cáo trạng truy tố và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra - Công an huyện Gò Quao, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Quao, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Sự có mặt của những người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa người làm chứng chị Phan Thị Cẩm G, ông Lâm Thanh V0 có đơn xin vắng mặt; ông Danh T vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Xét thấy ông T vắng mặt tại phiên tòa nhưng trước đó đã có lời khai tại cơ quan điều tra, việc vắng mặt những người này không gây trở ngại cho việc xét xử nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ theo quy định tại Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Bị cáo Phạm Hoài A hoàn toàn nhận thức được rằng dùng ly thủy tinh là loại hung khí nguy hiểm, chỉ vì mâu thuẫn trong cách ứng xử, bị cáo đã dùng ly thủy tinh gây thương tích cho bị hại ở vùng mặt. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do các thương tích trên gây nên hiện tại là 12% (mười hai phần trăm). Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định pháp y về thương tích số 199/TgT ngày 10/5/2021 của Trung tâm pháp y tỉnh Kiên Giang.

Điều 134 Bộ luật hình sự quy định về Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác như sau:

“1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;

b) Dùng a-xít nguy hiểm hoặc hóa chất nguy hiểm;

…

k) Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm:

a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31 % đến 60%;

…

đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.

…”

Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của người khác, xâm phạm an toàn, trật tự công cộng. Hành vi của bị cáo Phạm Hoài A đã cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự. Do đó Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố về hành vi phạm tội của bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Tính chất mức độ phạm tội của bị cáo thể hiện như sau: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sức khỏe của người khác, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Giữa bị cáo và bị hại cũng có quen biết với nhau, lẽ ra khi xảy ra mâu thuẫn nên có cách xử sự phù hợp nhưng bị cáo lại dùng bạo lực để giải quyết, dẫn đến gây thương tích cho bị hại. Sau khi gây án xong thì bị cáo bỏ trốn lên tỉnh Bình Dương làm thuê và Cơ quan điều tra ra lệnh truy nã, đến ngày 12/10/2021 Phạm Hoài A bị bắt theo quyết định truy nã số 03 của Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang, cho thấy bị cáo xem thường pháp luật, sau khi phạm tội có hành vi trốn tránh gây khó khăn cho cơ quan điều tra trong quá trình giải quyết vụ án. Hành vi của bị cáo cho thấy bị cáo xem thường sức khỏe người khác. Với tính chất, mức độ và hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra cần xử phạt bị cáo một mức án tương xứng nhằm răn đe, cải tạo, giáo dục bị cáo sống chấp hành theo quy định của pháp luật, biết tôn trọng sức khỏe của người khác, đồng thời phòng ngừa chung đối với loại tội phạm này.

Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tài liệu về lý lịch cá nhân của bị cáo thể hiện bị cáo có nhân thân tốt, bản thân chưa có tiền án, tiền sự. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo tác động gia đình nộp khắc phục xong hậu quả cho bị hại với số tiền 60.000.000 đồng (Sáu mươi triệu đồng) và tại phiên tòa bị hại có yêu cầu xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên Hội đồng xét xử xét thấy áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo khi lượng hình.

Về trách nhiệm dân sự: Miễn xét

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, điểm đ khoản 2 Điều 134, Điều 38, Điều 54 Bộ luật hình sự; Nghị quyết 01/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên bố bị cáo Phạm Hoài A phạm tội "Cố ý gây thương tích".

Xử phạt bị cáo Phạm Hoài A 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày vào chấp hành án.

Về trách nhiệm dân sự: Miễm xét.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Phạm Hoài A nộp án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ