vanban.org

Bản án 03/2022/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Quảng Ngãi Tuyên án 26/10/2022 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 26/10/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Bùi Văn K, Lê Văn Tr và Đặng Minh M. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 20/2022/HS-ST ngày 30/8/2022 của Tòa án nhân dân huyện MĐ, tỉnh Q.

Áp dụng: Điểm d khoản 3 Điều 134; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 54, Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Bùi Văn K 04 (Bốn) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam (ngày 16/10/2021). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Văn K cùng đp - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều c…"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Bùi Văn K, Lê Văn Tr và Đặng Minh M. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 20/2022/HS-ST ngày 30/8/2022 của Tòa án nhân dân huyện MĐ, tỉnh Q.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH QUẢNG NGÃI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2022/HS-PT
Ngày 26-10-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Năm

Các Thẩm phán:

Bà Trần Thị Bé

Bà Lê Thị M Giang

Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Tình – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Công Thành – Kiểm sát viên.

Trong ngày 26 tháng 10 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 04/2022/TLPT-HS ngày 04 tháng 10 năm 2022 do có kháng cáo của các bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 20/2022/HS-ST ngày 30/8/2022 của Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Quảng Ngãi.

- Các bị cáo có kháng cáo:

1. Bùi Văn K, sinh ngày 05 tháng 12 năm 1998, tại tỉnh Q; nơi cư trú: Thôn AC, xã Đ, huyện M, tỉnh Q; nghề nghiệp: Làm biển; Trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi T và bà Nguyễn Thị T; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 16/10/2021 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Lê Văn Tr, sinh ngày 20 tháng 5 năm 2000, tại tỉnh Q; nơi cư trú: Thôn KT, xã Đ, huyện M, tỉnh Q; nghề nghiệp: Làm biển; Trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn Ch và bà Trần Thị K; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 16/10/2021 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

3. Đặng Minh M, sinh ngày 08 tháng 10 năm 2000, tại tỉnh Quảng Ngãi; nơi cư trú: Thôn KT, xã Đ, huyện M, tỉnh Q; nghề nghiệp: Làm biển; Trình độ học vấn: 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng M và bà Nguyễn Thị N; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 31/12/2021 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 21 giờ 30 phút ngày 11/8/2021, Phan Duy Anh S điều khiển xe mô tô ra biển thuộc thôn AC, xã Đ để tìm anh của mình là Phan Duy T. Tại đây S gặp một nhóm thanh niên đang nhậu trên bãi biển gồm Bùi Văn K, Đặng Minh M, Lê Văn Tr, Ngô Anh X và em trai của K tên Đ cùng ngồi chơi. S đến hỏi tìm T nhưng cả nhóm đều nói không có, rồi S quay người bỏ đi. Khi quay đi thì S thấy có một người giống T nên S bật đèn điện thoại rọi vào nhóm K đang ngồi và rọi vào mặt của Đ để nhìn. Lúc này, Tr và M tiến tới dùng chân đạp S ngã xuống đất, S đứng dậy nói “em làm gì mà mấy anh đánh em” rồi đi lên đường bê tông điều khiển xe bỏ đi. Sau khi S bỏ đi thì K dẫn Đ về nhà ngủ, còn M thì dắt xe máy của mình vào nhà K để cất rồi quay lại chỗ nhậu. Trên đường từ nhà K đi xuống chỗ nhậu, M thấy bực tức vì S lúc nãy như chửi, thách thức và có người chạy xe máy dưới đường bê tông giống như S nên M ghé vào một nhà đang xây dựng gần đó lấy hai cây sắt chéo của giàn giáo xây dựng đi xuống qua khỏi đường bê tông một đoạn nhưng không thấy người điều khiển xe giống như S nên M cầm hai cây sắt chéo của giàn giáo xây dựng bỏ xuống bụi cây gần đó rồi đi xuống chỗ nhậu có Tr và X.

Sau khi điều khiển xe mô tô chạy về nhà thì S gặp T ở nhà, S vào trong nhà lấy một con dao chặt xương, thấy vậy T hỏi thì S nói mới bị một nhóm thanh niên ở ngoài bãi biển đánh và giờ đi đánh lại. Nghe vậy, T không nói gì mà vào trong nhà lấy một con dao Thái Lan (Loại dao xắt thịt) rồi T đi ra lấy xe mô tô Exciter biển số 76D1-179.82 chở S đi tìm đánh lại nhóm thanh niên này.

Khi đến nơi, T dựng xe trên đường bê tông, rồi T và S mỗi người cầm một con dao đi xuống bãi biển đến vị trí của Tr, M và X đang ngồi. Thấy T và S cầm dao tiến tới vị trí của nhóm mình thì Tr lấy con dao tự chế cong hình chữ S không có cán mà M cầm xuống trước đó để ở chỗ nhậu, M cầm một khúc cây gỗ, X lấy một cục đá và một khúc cây gỗ tại khu vực chỗ nhậu tiến về hướng chỗ T và S đang đi tới. Khi hai nhóm cách nhau khoảng 10m, thì X cầm cục đá, M cầm khúc cây gỗ ném về phía T và S nhưng không trúng, T và S lùi lại lên hướng đường bê tông; Tr, M, X cũng đi theo, khi đi đến bụi cây gần đường bê tông thì M lấy hai cây sắt giàn giáo bỏ trước đó cầm đi lên trên đường bê tông. Khi lên đến đường bê tông, do hai cây sắt giàn giáo dài nên M bỏ một cây sắt giàn giáo xuống đường, còn một cây thì bẻ gập làm đôi lại thành hai khúc cầm trên hai tay. Hai bên đứng đối diện nhau trên đường bê tông cách nhau khoảng 02 đến 03 mét. Lúc này, K đi bộ từ nhà K ở hướng ngã ba phía Tây đường bê tông xuống thì thấy T và S cầm dao, biết T và S đến tìm đánh nhóm của mình nên K tìm lấy một cây tre dài khoảng 02 mét từ chuồng gà nhà người dân gần đó cầm đi xuống đứng vào nhóm của mình.

Hai nhóm đứng đối diện nhau trên đường bê tông, T đứng phía Tây, S đứng phía đông; K đi xuống thì đứng ở phía Tây đối diện với T, M đứng giữa, Tr đứng phía đông còn X đứng phía sau Tr và M. Hai bên có lời lẽ thách thức qua lại, lúc này T nói “sao tụi bây lớn mà đánh em tao, thích thì cạch 5/5, chơi tay đôi”. Nghe vậy, K không nói gì mà cầm cây tre đánh từ trên xuống vào người T, T đưa tay lên đỡ thì làm rớt cây tre của K. Sau đó, hai bên xông vào đánh nhau.

T cầm dao xông tới đánh nhau với K, còn S thì sáp vào đánh nhau với Tr và M. Khi S và Tr sáp vào đánh nhau thì Tr cầm dao tự chế chém một cái từ trên xuống vào người S nhưng không trúng, S cầm dao bằng tay phải chém lại một cái từ trên xuống trúng vào vai trái của Tr, Tr tiếp tục sáp tới chém hai cái từ trên xuống dưới, từ phải qua trái và từ trái qua phải thì S đưa tay trái và tay phải lên đỡ thì bị trúng vào cẳng tay trái và cánh tay phải. Do bị S chém trúng vai trước đó nên Tr lùi lại và ngồi xuống bợ vai, lúc này M cầm 02 cây sắt xông tới đánh nhau với S, M dùng cây sắt đánh trúng một cái xước qua môi và bụng của S, S dùng dao chém lại hai, ba cái và trúng một cái vào phần lưng, hông phải của M.

Khi bị K cầm cây tre đánh thì T đưa tay trái lên đỡ nên trúng vào tay và làm cho cây tre bị rơi xuống đất nên T cầm dao tới chém K nhưng không trúng, K lùi khoảng bốn, năm bước thì thấy Tr đang ngồi bợ vai, tay phải cầm con dao tự chế nên K lại giật lấy con dao của Tr đang cầm quay lại chém ngang một cái từ trái qua phải, lúc này T đang xông tới nên trúng vào má bên phải của T. Thấy thất thế và bị thương nên T gọi S bỏ chạy về nhà và sau đó được người thân đưa đi bệnh viện cấp cứu. Còn Tr, M thì bị thương tích nhẹ nên không đi cấp cứu mà ở nhà điều trị.

Ngày 08/9/2021, Trung tâm giám định pháp y tỉnh Q có Kết luận số 224 và 226, kết luận tổng phần trăm thương tích của Phan Duy Anh S là 21 % phù hợp với vật sắc gây nên, Phan Duy T là 26 % phù hợp với vật sắc gây nên.

Ngày 14/9/2021, Trung tâm giám định pháp y tỉnh Q có Kết luận số 231 và 232 kết luận tổng phần trăm thương tích của Đặng Minh M là 02 %, Lê Văn Tr là 01 % phù hợp với vật sắc gây nên.

Ngày 19/10/2021, Đặng Minh M có đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự đối với thương tích của M; ngày 10/11/2021, Lê Văn Tr có đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự đối với thương tích của Tr.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 20/2022/HS-ST ngày 30/8/2022 của Tòa án nhân dân huyện MĐ, tỉnh Q:

Tuyên bố: Các bị cáo Bùi Văn K, Lê Văn Tr, Đặng Minh M, Ngô Anh X, Phan Duy Anh S, Phan Duy T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

1. Áp dụng điểm d khoản 3 Điều 134; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Bị cáo Bùi Văn K 05 (Năm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam (ngày 16/10/2021).

2. Áp dụng điểm d khoản 3 Điều 134; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 54, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Bị cáo Lê Văn Tr 04 (Bốn) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam (ngày 16/10/2021).

3. Áp dụng điểm d khoản 3 Điều 134; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 54, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Bị cáo Đặng Minh M 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam (ngày 31/12/2021).

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên phạt bị cáo Ngô Anh X 02 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm; bị cáo Phan Duy Anh S 01 năm tù nhưng cho nhưng án treo, thời gian thử thách 02 năm; bị cáo Phan Duy T 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng; tuyên về bồi thường thiệt hại, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 09/9/2022, các bị cáo Bùi Văn K, Lê Văn Tr, Đặng Minh M đều có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi về việc giải quyết vụ án: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo Bùi Văn K, Lê Văn Tr, Đặng Minh M về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật. Tại cấp phúc thẩm, các bị cáo Bùi Văn K, Lê Văn Tr, Đặng Minh M đã tác động gia đình mỗi bị cáo nộp 3.000.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện M để bồi thường thiệt hại cho bị hại, cung cấp các tài liệu gia đình có công với cách mạng. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng Hình sự, chấp nhận kháng cáo của các bị cáo. Xử phạt bị cáo Bùi Văn K từ 03 năm 06 tháng tù đến 04 năm tù; bị cáo Lê Văn Tr từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù; bị cáo Đặng Minh M từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các Tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Vào tối ngày 11/8/2021, Phan Duy Anh S đến khu vực biển thuộc thôn AC, xã Đ, huyện M để tìm anh trai là Phan Duy T. Tại đây, Bùi Văn K, Lê Văn Tr, Đặng Minh M, Ngô Anh X và Đang (em trai của K) đang ngồi nhậu thì S đến có hành vi bật đèn điện thoại rọi vào nhóm của K và vào mặt của Đ nên Tr và M dùng chân đạp S ngã xuống cát nhưng chưa gây thương tích gì. S về nhà lấy một con dao chặt xương và cùng với Phan Duy T cầm 01 con dao Thái Lan xắt thịt đến chỗ nhóm của Bùi Văn K để đánh lại. S cầm dao chặt xương chém một cái trúng vào vai trái của Tr và chém một cái trúng vào phần lưng hông phải của M. Tr cầm dao tự chế chém 02 cái trúng vào cẳng tay trái và cánh tay phải của S; K giật con dao tự chế của Tr đang cầm chém trúng vào vùng má bên phải của T; M cầm 02 cây sắt đánh xước qua môi và bụng của S. Riêng Ngô Anh X và Phan Duy T có tham gia đánh nhau nhưng không gây thương tích cho ai. Kết luận giám định của Trung tâm giám định pháp y tỉnh Q thì tổng phần trăm thương tích của Phan Duy Anh S là 21%, Phan Duy T là 26%, Đặng Minh M là 02 % và Lê Văn Tr là 01 %, các tổn thương trên phù hợp với vật sắc gây thương tích.

Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo Bùi Văn K, Lê Văn Tr, Đặng Minh M, Ngô Anh X về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm d khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự; các bị cáo Phan Duy T, Phan Anh Duy S theo điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo Bùi Văn K, Lê Văn Tr, Đặng Minh M, thì thấy:

Trong quá Tr điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm, các bị cáo Bùi Văn K, Lê Văn Tr, Đặng Minh M đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho bị hại.

Đối với bị cáo Bùi Văn K: Bị cáo có cha là Bùi T được Ủy ban nhân dân tỉnh Q tặng bằng khen về thành tích tiêu biểu trong làm kinh tế biển, thường xuyên bám biển ở ngư trường Hoàng Sa, Trường Sa, tích cực tham gia công tác cứu hộ, cứu nạn trên biển, góp phần khẳng định chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc giai đoạn 2008 - 2012. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới, gia đình bị cáo có công với cách mạng. Đồng thời, sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo đã tác động gia đình nộp số tiền 3.000.000 đồng để bồi thường thiệt hại cho bị hại.

Đối với bị cáo Lê Văn Tr: Trong quá Tr tham gia nghĩa vụ quân sự, bị cáo được tặng Giấy khen. Tại cấp phúc thẩm, gia đình bị cáo cung cấp thêm tình tiết mới có bà Lê Thị H (bà nội của bị cáo) được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Ba. Đồng thời sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo tiếp tục tác động gia đình nộp số tiền 3.000.000 đồng để bồi thường thiệt hại cho bị hại.

Đối với bị cáo Đặng Minh M: Bị cáo có ông nội Đặng C được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Nhất. Tại cấp phúc thẩm, gia đình bị cáo cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới, gia đình có công với cách mạng. Đồng thời, sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo tiếp tục tác động gia đình nộp 3.000.000 đồng để bồi thường thiệt hại cho bị hại.

Xét thấy các bị cáo Bùi Văn K, Lê Văn Tr, Đặng Minh M có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đồng thời, một phần nguyên nhân dẫn đến xảy ra vụ án là do Phan Duy Anh S và Phan Anh T nhưng cấp sơ thẩm xét xử mức hình phạt đối với Bùi Văn K 05 năm tù, Lê Văn Tr 04 năm 06 tháng tù, Đặng Minh M 03 năm 06 tháng tù là nặng. Mặt khác, xét các bị cáo có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới tại cấp phúc thẩm, nên Hội đồng xét xử chấp nhận nội dung kháng cáo của các bị cáo, áp dụng thêm Điều 54 Bộ luật Hình sự cho bị cáo Bùi Văn K và giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là đúng quy định và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Về án phí: Các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Bùi Văn K, Lê Văn Tr và Đặng Minh M. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 20/2022/HS-ST ngày 30/8/2022 của Tòa án nhân dân huyện MĐ, tỉnh Q.

- Áp dụng: Điểm d khoản 3 Điều 134; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 54, Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Bùi Văn K 04 (Bốn) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam (ngày 16/10/2021).

- Áp dụng: Điểm d khoản 3 Điều 134; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 54, Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Lê Văn Tr 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam (ngày 16/10/2021).

- Áp dụng: Điểm d khoản 3 Điều 134; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 54, Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Đặng Minh M 03 (Ba) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam (ngày 31/12/2021).

2. Tiếp tục tạm giữ số tiền 3.000.000 đồng gia đình bị cáo Bùi Văn K đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện M theo biên lai thu tiền số 0000020 ngày 10/10/2022 để đảm bảo thi hành án.

Tiếp tục tạm giữ số tiền 3.000.000 đồng gia đình bị cáo Lê Văn Tr đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện M theo biên lai thu tiền số 0000019 ngày 10/10/2022 để đảm bảo thi hành án.

Tiếp tục tạm giữ số tiền 3.000.000 đồng gia đình bị cáo Đặng Minh M đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện M theo biên lai thu tiền số 0000021 ngày 10/10/2022 để đảm bảo thi hành án.

3. Về án phí: Các bị cáo Bùi Văn K, Lê Văn Tr, Đặng Minh M không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

4. Các Quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

5. Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ