- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Văn S - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLH…"
- Tòa quyết gì? Tố tụng hình sự; chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Hoàng Văn S; sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số: 67/2021/HS-ST ngày 15/11/2021 của Tòa án nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn về phần hình phạt, cụ thể như sau:
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LẠNG SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 03/2022/HS-PT Ngày 18-01-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Chu Long Kiếm.
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Minh Thùy;
Ông Hồ Đức Châm.
- Thư ký phiên toà: Ông Đặng Cao Cường - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh
Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên toà:
Ông Tống Văn Giang - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn xét
xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 103/2021/TLPT-HS
ngày 14 tháng 12 năm 2021 đối với bị cáo Hoàng Văn S, do có kháng cáo của bị
cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 67/2021/HS-ST ngày 15 tháng 11 năm
2021 của Toà án nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn.
- Bị cáo có kháng cáo: Hoàng Văn S, sinh ngày 12-12-1953 tại huyện H,
tỉnh Lạng Sơn; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn A, xã T, huyện
H, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 7/10; dân tộc:
Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng
Văn T (đã chết) và bà Hà Thị S (đã chết); có vợ là Chu Thị M, sinh năm 1958 và
05 con, con lớn nhất sinh năm 1975, con nhỏ nhất sinh năm 1987; tiền án, tiền
sự: Không có; nhân thân: Chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự, chưa bị xử phạt
vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật; bị cáo hiện đang bị áp dụng biện
pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đến nay; hiện tại ngoại; có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo: Bà Dương Thị Quỳnh H - Trợ giúp viên pháp
lý, Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Lạng Sơn; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ ngày 25-4-2021, Hoàng Văn S sau khi ăn cơm, uống rượu
tại nhà con rể là Hoàng Văn Q thì về nhà tại thôn A, xã T, huyện H, tỉnh Lạng Sơn. Về đến nhà, Hoàng Văn S thấy Vi Văn P là bạn cùng thôn đang ở ghế uống nước, Chu Thị M là vợ Hoàng Văn S bị khiếm thị cả hai mắt cũng đang ở nhà. Hoàng Văn S cho rằng Vi Văn P có ý đồ xấu với Chu Thị M nên hỏi Vi Văn P “tao không có ở nhà, mày đến đây làm gì”, khi Vi Văn P chưa trả lời thì Hoàng Văn S lấy chiếc đòn gánh bằng tre dài 1,08m, chỗ rộng nhất 3,5cm, 02 đầu có mấu dựng ở cạnh cửa ra vào, cầm bằng tay phải chọc trúng vào cẳng chân phải của Vi Văn P rồi tiếp tục giơ đòn gánh lên vụt, thấy vậy Vi Văn P giơ tay trái lên đỡ nên bị đòn gánh vụt trúng vào cẳng tay trái. Sau đó Hoàng Văn S vứt chiếc đòn gánh ra, đi đến lấy ở gầm giường ngủ 01 con dao quắm bằng kim loại có tra cán gỗ dài 82cm, giơ lên chém về phía Vi Văn P, Vi Văn P giơ tay phải lên đỡ nhưng vẫn bị phần mũi dao chém trúng vị trí cung mày trái. Bị đánh đau nên Vi Văn P bỏ chạy ra sân, Hoàng Văn S bỏ vào trong buồng ngủ. Vi Văn P được đưa đến Trung tâm y tế huyện H, tỉnh Lạng Sơn điều trị đến ngày 04-5-2021 thì ra viện.
Ngày 26-4-2021, Vi Văn T là con trai Vi Văn P đã làm đơn trình báo vụ
việc. Cùng ngày, Hoàng Văn S đến Công an xã T, huyện H, tỉnh Lạng Sơn giao nộp các đồ vật gồm: 01 chiếc đòn gánh bằng tre, màu nâu, dài 1,08m, phần rộng nhất 3,5cm, ở hai đầu có mấu; 01 con dao quắm bằng kim loại màu đen tra cán gỗ, có tổng chiều dài 82cm, phần lưỡi dao dài 40cm, chỗ rộng nhất 5,2cm, mũi dao cong.
Tại bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số: 41/21/TgT ngày 18-
5-2021 của Trung tâm pháp y -Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Giang kết luận, cụ thể như sau: Thương tích vết sẹo trên cung mày trái 3%; thương tích vết sẹo mặt sau 1/3 trên cẳng tay trái + X quang cẳng tay trái: Hình ảnh gãy 1/3 trên xương trụ trái, đã kết hợp xương bằng nẹp vít, trục thẳng 10%;thương tích vết sẹo cổ tay phải 1%; thương tích vết sẹo đốt II Ngón III bàn tay phải + X quang bàn ngón tay phải: Hình ảnh gãy đầu gần đốt II ngón III bàn tay phải 2%; Thương tích vết thương đóng vảy khô mặt trước 1/3 giữa cẳng chân phải 1%.Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên đối với Vi Văn P là 16%.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 67/2021/HS-ST ngày 15/11/2021 của Tòa án
nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn S phạm tội “Cố ý gây thương tích”; xử phạt
bị cáo Hoàng Văn S 02 (hai) năm tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày đi thi hành án.
Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Hoàng Văn S phải bồi thường thiệt
hại do sức khỏe bị xâm phạm cho bị hại Vi Văn P tổng số tiền: 31.874.000 (ba mươi mốt triệu tám trăm bẩy mươi bốn nghìn) đồng.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên về nghĩa vụ chậm thi hành án xử lý vật
chứng, án phí, quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, trong thời hạn luật định, bị cáo Hoàng Văn S có
đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, hưởng án treo.
Tại phiên tòa, bị cáo Hoàng Văn S giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin
hưởng án treo.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn: Đơn kháng cáo
của bị cáo kháng cáo trong hạn luật định là hợp lệ, Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh
giá đúng tính chất, mức độ, hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, đã xem xét
đầy đủ tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ; xử phạt bị cáo mức án 02 năm tù là phù hợp.
Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo có xuất trình thêm 01 đơn trình bày có xác nhận
của UBND xã T, huyện H, tỉnh Lạng Sơn; đã khắc phục, bồi thường cho bị hại số
tiền 31.740.000 đồng và được bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và
hưởng án treo, bị cáo là người cao tuổi, đã 69 tuổi; vợ bị cáo bị khuyết tật khiếm
thị cả hai mắt; bị cáo thuộc hộ nghèo là người trực tiếp chăm sóc vợ nên bị cáo
được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b khoản 1, khoản 2 Điều
51 Bộ luật Hình sự 2015. Bị cáo có nhân thân tốt, không có tình tiết tăng nặng, có
nhiều tình tiết giảm nhẹ, đủ điều kiện được hưởng án treo. Do đó, đề nghị Hội
đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật
Tố tụng hình sự năm 2015, chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa một phần Bản
án hình sự sơ thẩm về phần hình phạt, chuyển 02 năm tù cho bị cáo hưởng án
treo, 04 năm thử thách.
Người bào chữa cho bị cáo vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã gửi bài bào
chữa cho bị cáo, có nội dung: Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo đã bồi thường toàn
bộ thiệt hại cho bị hại; bị hại cũng đã có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
và hưởng án treo cho bị cáo. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận
kháng cáo của bị cáo, cho bị cáo hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Hoàng Văn S thừa nhận toàn bộ hành
vi phạm tội của bản thân, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu
khác có trong hồ sơ vụ án. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Hoàng Văn S về tội
Cố ý gây thương tích theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015
là có căn cứ, đúng người, đúng tội, không oan.
Xét kháng cáo của bị cáo Hoàng Văn S yêu cầu cấp phúc thẩm cho
hưởng án treo. Thấy rằng, Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức
độ, hành vi phạm tội cũng như đã xem xét đến nhân thân, tình tiết tăng nặng,
tình tiết giảm nhẹ của bị cáo. Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo mức án 02 năm
tù là phù hợp.
Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo có xuất trình thêm tài liệu, chứng cứ
mới là 01 đơn trình bày có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã T, huyện H, tỉnh
Lạng Sơn; bị cáo đã bồi thường cho bị hại số tiền 31.740.000 đồng; bị hại có
đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hưởng án treo có nội dung xác nhận bị
cáo đã bồi thường khắc phục hậu quả cho bị hại số tiền 31.740.000 đồng; bị cáo là người cao tuổi, đến thời điểm xét xử bị cáo đã bước sang tuổi 69; bị cáo thuộc hộ nghèo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn thuộc diện trợ giúp pháp lý; bị cáo là người trực tiếp chăm sóc vợ là người khuyết tật khiếm thị cả hai mắt, vợ bị cáo đang hưởng trợ cấp xã hội. Đây là các tình tiết giảm nhẹ mới bị cáo được hưởng quy định tại điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; có nhiều tình
tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015; trong quá trình sinh sống tại địa phương bị cáo luôn chấp hành đúng chính sách pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú; bị cáo có nơi cư trú cụ thể, ổn định, rõ ràng; trong thời gian tại ngoại không có hành vi bỏ trốn hay vi phạm pháp luật; có khả năng tự cải tạo và nếu không bắt đi chấp hành hình phạt tù thì không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, không ảnh hưởng xấu đến cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm, bị cáo có đủ điều kiện được hưởng án treo theo Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Từ những phân tích trên, cần chấp nhận kháng cáo của bị cáo, chuyển
hình phạt 02 năm tù cho bị cáo được hưởng án treo, thời gian thử thách gấp đôi.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn và người
bào chữa cho bị cáo phù hợp với nhận định nêu trên nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình
sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo,
kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật
Tố tụng hình sự; chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Hoàng Văn S; sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số: 67/2021/HS-ST ngày 15/11/2021 của Tòa án nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn về phần hình phạt, cụ thể như sau:
1. Về hình phạt: Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1,
khoản 2 Điều 51; Điều 50; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015; Căn cứ điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Xử phạt bị cáo Hoàng Văn S 02 (hai) năm tù cho hưởng án treo về tội Cố ý
gây thương tích. Thời gian thử thách là 04 (bốn) năm kể từ ngày tuyên án phúc thẩm là ngày 18-01-2022.
Giao bị cáo Hoàng Văn S cho Uỷ ban nhân dân xã T, huyện H, tỉnh Lạng
Sơn để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực
hiện theo quy định tại Điều 68, khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa
vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo
phải chấp hành hình phạt tù của Bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về án phí: Bị cáo Hoàng Văn S không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm
Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo,
kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án
(18/01/2022)./.
| Nơi nhận: - TAND cấp cao tại Hà Nội; - VKSND cấp cao tại Hà Nội; - VKSND tỉnh Lạng Sơn; - Phòng PV 06 CA tỉnh Lạng Sơn; - Sở Tư pháp tỉnh Lạng Sơn; - TAND h. Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn; - VKSND h. Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn; - CCTHADS h. Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn; - Công an h. Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn; - Bị cáo; - Những người tham gia tố tụng. - Lưu: HS, Tòa HS, HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Chu Long Kiếm |