vanban.org

Bản án 03/2022/HS-GĐT — Hình sự

TAND cấp cao tại TP Hồ Chí Minh Tuyên án 18/01/2022 Hình sự Giám đốc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 18/01/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận Kháng nghị giám đốc thẩm số 258/QĐ-VC3 ngày 01/11/2021 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Hủy Quyết định đình chỉ việc xét xử phúc thẩm số 35/2021/HSPT-QĐ ngày 01/02/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai và Bản án hình sự sơ thẩm số 611/2020/HS-ST ngày 13/11/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai để điều tra lại. Chuyển hồ sơ vụ án Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "ĐẶNG KHOA ĐĂNG VÀ ĐỒNG PHẠM PHẠM CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạ…"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận Kháng nghị giám đốc thẩm số 258/QĐ-VC3 ngày 01/11/2021 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Căn cứ chính? Điều 382 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 388 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 391 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Quyết định số: 03/2022/HS-GĐT
Ngày 18 tháng 01 năm 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

ỦY BAN THẨM PHÁN TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Quảng Đức Tuyên

Các Thẩm phán:

Ông Lê Thành Văn

Ông Nguyễn Hữu Ba

- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Cẩm Linh - Thẩm tra viên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Hồng Đào - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa giám đốc thẩm xét xử vụ án hình sự đối với:

1. Đặng Khoa Đ, sinh năm 1997 tại Đồng Nai; nơi cư trú: Ấp 2, xã TP, huyện VC , tỉnh Đồng Nai; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Công nhân; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Ngọc S (còn sống) và bà Nguyễn Thị Th (còn sống); tiền án, tiền sự: không; bị bắt tạm giam từ ngày 18/02/2020.

2. Nguyễn Quốc C, sinh năm 1997 tại Đồng Nai; nơi cư trú: 34/2/19 ấp TH, xã HN, huyện T, tỉnh Đồng Nai; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Công nhân; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Ch (còn sống) và bà Nguyễn Thị Thu H (còn sống); tiền án, tiền sự: không; bị cáo tại ngoại.

3. Trần Minh Đăng H, sinh năm 1997 tại Đồng Nai; nơi cư trú: 74 Lê Thánh Tôn, phường TB, thành phố BH, tỉnh Đồng Nai; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Công nhân; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Minh Đ (còn sống) và bà Trần Ngọc Ng (còn sống); tiền án, tiền sự: không; bị cáo tại ngoại.

4. Lê Văn Thành Đ, sinh năm 1997 tại Đồng Nai; nơi cư trú: 56/31 Khu phố 2, phường TB, thành phố BH, tỉnh Đồng Nai; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Công nhân; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Quang V (còn sống) và bà Lê Thị Ng (còn sống); tiền án, tiền sự: không; bị cáo tại ngoại.

- Bị hại:

1. Nguyễn Hữu T, sinh năm 1999; nơi cư trú: 56/2, khu phố 2, phường AB, thành phố BH, tỉnh Đồng Nai.

2. Nguyễn Trương Trọng T, sinh năm 1997; nơi cư trú: B16/4, khu phố 5, phường TH, thành phố BH, tỉnh Đồng Nai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Vào khoảng 23 giờ ngày 02/07/2019, tại quán “Lạc Cảnh” thuộc khu phố 6, phường TN, thành phố BH, tỉnh Đồng Nai, Đặng Khoa Đ, Lê Văn Thành Đ, Trần Minh Đăng H và Nguyễn Quốc C cùng ngồi uống bia, kế bên có bàn của Nguyễn Trương Ngọc T, Nguyễn Thu H, Nguyễn Hữu T cùng một số người bạn khác cùng ngồi uống bia. Khoảng 30 phút sau, T nghe người nói lại có người bên bàn của Đ muốn xin số điện thoại của H (bạn gái của T) thì T cầm ly uống bia thủy tinh đi đến bàn của Đ và hỏi ai xin số điện thoại bạn gái của T thì nhóm của Đ nói không ai xin số điện thoại hết. Lúc này, T dùng ly thủy tinh đánh vào tay trái của Đ làm ly thủy tinh bị vỡ, T tiếp tục cầm ly uống bia thủy tinh trên bàn của Đ đánh tiếp vào đầu Đ. Thấy vậy, Đ, H và C cùng đứng dậy cầm ly thủy tinh và vỏ chai bia thủy tinh trên bàn cùng Đ đánh T thì T bỏ chạy. Sau đó, Đ, Đ, C và H tiếp tục đuổi theo T và khi chạy đến bãi cát dùng xây dựng trên vỉa hè, T lấy một tuýt sắt dài khoảng 1m đánh lại nhóm của Đ. Lúc này, Đ lấy 1 con dao ở bãi giữ xe cùng với Đ, C và H tiếp tục đánh T. Thấy vậy, T quay lại quán bia “Lạc cảnh” thì bị Đ cầm chai bia loại thủy tinh áp sát T nên T vung cây đánh vào tay Đ, còn Đ dùng ly uống bia thủy tinh ném về phía T, T vung cây đánh Đ và Đ, Đ lao vào dùng dao chém đầu T, Đ tiếp tục dùng dao chém T thì bị trượt tay nên rơi dao ở quầy lễ tân. Sau đó, Đ, Đ, H và C tiếp tục áp sát đánh Tùng làm Tùng ngã xuống. Lúc này, C cầm theo chai bia loại thủy tinh, Đ dùng tay không, H cùng Đ xông vào đánh T, T vùng được ra ngoài và bỏ chạy. Đ nhặt cây tuýt sắt mà T làm rơi cùng với H và C đuổi theo T để đánh. Trên đường, Đ bị một đối tượng chém vào lưng gây thương tích. Sau đó, T được người dân đưa vào Bệnh viện ITO thuộc phường Thống Nhất, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai để cấp cứu.

Trong lúc H, C và Đ đuổi đánh Tùng, Đ đi lại khu vực sảnh quán thì thấy Nguyễn Hữu Tú cúi xuống bàn lấy khóa xe nên nghĩ Tú lấy chai bia để đánh nhau nên Đ cầm chai bia loại thủy tinh đập vào sau đầu Tú làm chai bia thủy tinh bị vỡ nên Tú bỏ chạy ra ngoài đường. Sự việc được mọi người can ngăn và Tú được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Đồng Nai. Sau đó, C, H cùng đưa Đ và Đ vào Bệnh viện ITO cấp cứu thì gặp T đang cấp cứu. Tại đây, Đ và C tiếp tục đánh T. Đ thấy có chiếc kéo gắp chỉ để trên kệ trong phòng cấp cứu nên lấy kéo đâm vào đầu Tùng 3 cái, C dùng tay đánh vào đầu T thì được mọi người can ngăn.

Theo kết luận giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể của Nguyễn Hữu Tú là 62%, Nguyễn Trương Trọng T là 15%, Đặng Khoa Đ 15%, Lê Văn Thành Đ là 15%.

Đối với Nguyễn Trương Trọng T có hành vi gây thương tích cho Đặng Khoa Đ với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 15%, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Biên Hòa đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can bằng một vụ án khác.

Đối với Lê Văn Thành Đ bị thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 20%, do chưa xác định người gây thương tích cho Đ nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Biên Hòa tách ra tiếp tục điều tra, làm rõ xử lý sau.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 611/2020/HS-ST ngày 13/11/2020, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bố: Đặng Khoa Đ phạm tội “Cố ý gây thương tích”, theo điểm d khoản 4 Điều 134 Bộ luật hình sự, xử phạt 05 năm tù; Nguyễn Quốc C, Trần Minh Đăng H và Lê Văn Thành Đ phạm tội “Cố ý gây thương tích”, theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự, xử phạt mỗi bị cáo 02 năm tù nhưng cho hưởng án treo.

Ngày 24/11/2020, Đặng Khoa Đ kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Ngày 01/02/2021, Tòa án cấp phúc thẩm ban hành Quyết định đình chỉ việc xét xử phúc thẩm số 35/2021/HSPT-QĐ do ngày 01/02/2021, Đ có đơn xin rút đơn kháng cáo.

Ngày 05/3/2021, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai ban hành Báo cáo đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm số 73/BC-VKS-P7, đề nghị Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm đối với bản án hình sự sơ thẩm để điều tra lại.

Ngày 01/11/2021, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh ban hành Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 258/QĐ-VC3, kháng nghị đối với bản án hình sự sơ thẩm nêu trên để điều tra lại vì những sai sót như sau:

Thứ nhất, hành vi của Đặng Khoa Đ gây thương tích cho Nguyễn Trương Trọng T tại bệnh viện có dấu hiệu phạm tội “Cố ý gây thương tích”, quy định tại Điều 134 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm nhận định hành vi nêu trên của Đ không phạm tội là có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm.

Thứ hai, hành vi đánh nhau giữa Đ, C với T tại phòng cấp cứu của Bệnh viện là có dấu hiệu phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”, quy định tại Điều 318 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm chưa xem xét đến vấn đề này là có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm.

Thứ ba, hành vi của Đ khi gây thương tích cho anh Nguyễn Hữu Tú là có tính chất côn đồ nhưng Toà án cấp sơ thẩm không áp dụng tình tiết tăng nặng đối với Đ là chưa đánh giá được tính chất, mức độ hành vi phạm tội và hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra.

Thứ tư, theo giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể của anh Tú do hành vi phạm tội của Đăng gây ra là 60,84% làm tròn là 61%. Vì vậy, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm đã truy tố, xét xử Đăng theo điểm d khoản 4 Điều 134 Bộ luật hình sự là chưa chính xác, gây bất lợi cho bị cáo.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Hội đồng giám đốc thẩm chấp nhận toàn bộ Kháng nghị số 258/QĐ-VC3 ngày 01/11/2021 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Ngày 02/7/2019, tại quán “Lạc Cảnh” thuộc khu phố 6, phường TN, thành phố BH, tỉnh Đồng Nai, Đặng Khoa Đ có hành vi gây thương tích cho anh Nguyễn Hữu Tú với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 61%. Lê Văn Thành Đ, Nguyễn Quốc C và Trần Minh Đăng H có hành vi gây thương tích cho anh Nguyễn Trương Trọng T với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 15%.

Đối với nội dung kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét thấy:

2.1 Về hành vi của Đặng Khoa Đ khi gây thương tích cho anh Nguyễn Trương Trọng T:

Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm đã nhận định hành vi của Đ gây thương tích cho anh T 15% là không phạm tội vì Đăng thực hiện hành vi trong tinh thần bị kích động mạnh do hành vi trái pháp luật của T gây ra. Tại nội dung kháng nghị, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh nhận định hành vi của Đ dùng kéo đâm vào đầu anh T tại bệnh viện có dấu hiệu phạm tội “Cố ý gây thương tích”, tội danh và hình phạt quy định tại Điều 134 Bộ luật hình sự nhưng Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm chưa làm rõ tỷ lệ tổn thương của anh T tại quán “Lạc Cảnh” và tại bệnh viện là bao nhiêu % mà chỉ xử lý trách nhiệm hình sự đối với Đ, C và H mà không xem xét đối với hành vi trên của Đ là có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm.

Xét thấy: Theo hồ sơ vụ án, anh Nguyễn Trương Trọng T là người có lỗi khi vô cớ dùng ly thủy tinh và vỏ chai bia thủy tinh đánh Đặng Khoa Đ nên mới xảy ra xô xát giữ Đ với T và tại Bệnh viện ITO thì Đ dùng kéo đâm vào vùng đầu của T 03 cái. Việc Đ và T đánh nhau dẫn đến mỗi bên đều có thương tích. Vì vậy, Đ và T đều phải chịu trách nhiệm hình sự do hành vi trái pháp luật của mình gây ra. Do đó, tình tiết Đ phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của T gây ra là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, quy định tại điểm e khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Đồng thời, theo quy định tại các điều 20, 21, 22, 23, 24, 25 và 26 Bộ luật hình sự, tình tiết phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của nạn nhân gây ra không thuộc trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm loại trừ trách nhiệm hình sự đối với Đ vì cho rằng Đ thực hiện hành vi trong tinh thần bị kích động mạnh là có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm. Do đó, nội dung kháng nghị nêu trên của Viện trưởng Viện kiểm sát là có căn cứ nhưng để giải quyết vụ án đúng quy định pháp luật, phải xem xét thêm về hành vi của Đ gây thương tích cho T tại quán “Lạc Cảnh” để tránh bỏ lọt tội phạm.

2.2 Về hành vi đánh nhau giữa Đ, C với T tại Bệnh viện ITO: Việc Đ, C và T đánh nhau tại phòng cấp cứu Bệnh viện ITO có ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Hành vi nêu trên của Đ, C và T có dấu hiệu phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”, tội danh và hình phạt quy định tại Điều 318 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm không xem xét hành vi trên là có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm.

2.3 Về hành vi của Đ khi gây thương tích cho anh Nguyễn Hữu Tú: Đăng dùng vỏ chai bia thủy tinh đánh vào sau đầu anh Tú trong khi giữa anh Tú và Đ không có mâu thuẫn gì, điều này thể hiện bản chất côn đồ khi Đ thực hiện hành vi phạm tội. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm không áp dụng tình tiết tăng nặng phạm tội có tính chất côn đồ quy định tại điểm d khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự là chưa đánh giá được tính chất, mức độ hành vi phạm tội và hậu quả do hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra.

2.4 Về tỷ lệ tổn thương cơ thể của anh Tú từ 60,84% làm tròn 61% để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Đ:

Việc xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể của anh Tú do hành vi phạm tội của Đăng gây ra có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định định khung tội danh đối với Đăng.

Tại Bản kết luận giám định số 0775/TgT/2019 ngày 01/10/2019, Trung tâm pháp y - Sở y tế tỉnh Đồng Nai, kết luận tỷ lệ tổn thương cơ thể của anh Tú là 62%, trong đó tỷ lệ tổn thương ở chân là 2%. Tại Công văn số 331/TTPY/2020 ngày 31/8/2020, Trung tâm pháp y - Sở y tế tỉnh Đồng Nai xác định việc tính tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể trên được tính như sau: Tỷ lệ tổn thương ở chân là 2%, tỷ lệ tổn thương còn lại là 60,84% làm tròn 61%, tổng tỷ lệ 02% + 60.84%=61.84% (làm tròn 62%). Tuy nhiên, tại phiên tòa anh Tú khai nhận vết thương ở chân 2% là lúc anh Tú được đưa đi cấp cứu bàn chân của anh Tú chạm xuống đường gây thương tích. Như vậy, theo cách tính trên thì tổng tỷ lệ 62% trừ tỷ lệ tổn thương chân 2% bằng tỷ lệ tổn thương còn lại là 60%. Ngoài ra, Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm chưa làm rõ việc tính tỷ lệ thương tổn thương theo Công văn 331 nêu trên thì 2% + 60.84% = 62.84% nhưng Trung tâm Pháp y - Sở y tế tỉnh Đồng Nai lại cộng ra kết quả 61.84%, chênh lệch 1%. Do đó, để xét xử đúng pháp luật về tỷ lệ tổn thương cơ thể do hành vi phạm tội của Đ gây ra cho anh Tú, phải hủy bản án hình sự sơ thẩm về phần trách nhiệm hình sự đối với Đ để điều tra lại về tỷ lệ tổn thương cơ thể của anh Tú để làm căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Đ.

Tuy nhiên, tổn thương cơ thể của anh T là do Đ, Đ, C và H gây ra, nhận thấy khi điều tra về phần trách nhiệm hình sự đối với Đ có liên quan đến hành vi phạm tội của 03 bị cáo còn lại. Do đó, cần hủy toàn bộ bản án hình sự sơ thẩm để điều tra lại làm rõ hành vi phạm tội của từng bị cáo để đảm bảo giải quyết vụ án được chính xác, đúng quy định pháp luật.

Từ những phân tích trên, chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, hủy toàn bộ bản án hình sự sơ thẩm nêu trên để điều tra lại theo đúng quy định pháp luật.

Ngoài ra, sau khi xét xử sơ thẩm, Đặng Khoa Đ kháng cáo và sau đó

rút toàn bộ kháng cáo trước khi mở phiên tòa nên Tòa án cấp phúc thẩm đã ban hành Quyết định đình chỉ việc xét xử phúc thẩm số 35/2021/HSPT-QĐ ngày 01/02/2021 là đúng quy định pháp luật. Tuy nhiên, do yêu cầu điều tra lại vụ án đối với tất cả bị cáo nên cần thiết phải hủy Quyết định đình chỉ việc xét xử phúc thẩm số 35/2021/HSPT-QĐ ngày 01/02/2021 để bảo đảm giải quyết triệt để vụ án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 382, khoản 3 Điều 388, Điều 391, Điều 395 Bộ luật Tố tụng hình sự;

1. Chấp nhận Kháng nghị giám đốc thẩm số 258/QĐ-VC3 ngày 01/11/2021 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Hủy Quyết định đình chỉ việc xét xử phúc thẩm số 35/2021/HSPT-QĐ ngày 01/02/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai và Bản án hình sự sơ thẩm số 611/2020/HS-ST ngày 13/11/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai để điều tra lại.

3. Chuyển hồ sơ vụ án Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh để điều tra lại theo đúng quy định pháp luật.

4. Tạm giam Đặng Khoa Đăng kể từ ngày ban hành quyết định giám đốc thẩm cho đến khi Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý lại vụ án.

5. Quyết định của Hội đồng giám đốc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.

Cỡ chữ