- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn, tranh chấp nuôi con"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Mai N.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 03/2022/HNGĐ-ST Ngày 06-01-2023 V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Thanh Trà
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phan Thị Sơn
Bà Trần Thị Hậu
- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Hằng – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Phú
Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu
tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lan Hương– Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ xét xử
sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 303/2022/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 10 năm 2022, về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 102/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 11 năm 2022, Quyết định hoãn phiên tòa số 66/2022/QĐST-HNGĐ ngày 16 tháng 12 năm 2022, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Mai N, sinh năm 1996; Địa chỉ: Tổ X, thôn P, xã T, thị xã P, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu (có mặt)
- Bị đơn: Ông Lê Văn K, sinh năm 1994; Địa chỉ: Tổ X, thôn P, xã T, thị xã P, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo Đơn khởi kiện, quá trình tố tụng và tại phiên tòa nguyên đơn bà Nguyễn Mai N trình bày:
Bà N và ông Lê Văn K tự nguyện kết hôn và đã được Ủy ban nhân dân xã T, huyện T (nay là thị xã P), tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu cấp giấy chứng nhận kết hôn số 98 vào ngày 21-11-2013.
Sau kết hôn, vợ chồng bà N, ông K sống hạnh phúc đến khi bà N sinh con đầu thì vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống, công việc làm ăn không được thuận lợi nên vợ chồng thường xuyên xảy ra cải nhau, mâu thuẫn ngày càng nhiều. Ngoài ra nguyên nhân mâu thuẫn một phần ông K nghe lời mẹ ruột nên thường xuyên N ngờ nghen tuông vô cớ với bà N. Đồng thời ông K thường xuyên có hành vi bạo lực với bà N. Vợ chồng đã tìm cách khắc phục nhưng không có kết quả. Do mâu thuẫn ngày càng trầm trọng nên từ khi bà N sinh con thứ hai được 6 tháng thì vợ chồng đã không còn chung sống với nhau. Nay thời gian ly thân đã lâu, nhận thấy mâu thuẫn không thể hàn gắn, tình cảm vợ chồng không còn nên bà N yêu cầu được ly hôn với ông K.
Về con chung: Vợ chồng bà N, ông K có hai con chung là Lê Nguyễn Đông N, sinh ngày 17-08-2013 và Lê Nguyễn Tuyết N, sinh ngày 02-01-2015. Hiện tại hai con chung đang sinh sống với gia đình ông K, nên bà N yêu cầu giao hai con cho ông K trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến trưởng thành và bà N không phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Đối với bị đơn ông Lê Văn K: Tòa án đã tống đạt hợp lệ cho ông K thông báo thụ lý, giấy triệu tập, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải và các văn bản tố tụng khác, nhưng ông K không thể hiện ý kiến, yêu cầu, không gửi tài liệu chứng cứ đến Tòa án và vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.
* Kết quả xác minh tại địa phương: Tại biên bản xác minh ngày 21-11-2022, tại thôn P, xã T, thị xã P, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu xác định: Bà Nguyễn Mai N và ông Lê Văn K là vợ chồng chung sống với nhau tại Thôn P, xã T, thị xã P, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. Tuy nhiên, đời sống vợ chồng bà N, ông K xảy ra nhiều mâu thuẫn nên vợ chồng đã không còn sống chung với nhau từ năm 2016 đến nay. Vợ chồng bà N, ông K có hai con chung. Các con bà N, ông K hiện do ông K chăm sóc nuôi dưỡng phát triển bình thường. Chính quyền địa phương chưa ghi nhận vi phạm quyền trẻ em đối với hai con của ông K, bà N.
* Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên:
- Về tố tụng: Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ thụ lý và giải quyết vụ việc trên là đúng thẩm quyền. Trong quá trình giải quyết, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tiến hành các thủ tục tố tụng đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng các quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn không chấp hành đúng các quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Căn cứ vào lời khai của bà N và kết quả xác minh tại địa phương xác định mâu thuẫn vợ chồng bà N là có thật. Xét mâu thuẫn vợ chồng bà N đã đến mức trầm trọng, mục đích của cuộc hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu của bà N.
Về con chung: Xét hiện tại con chung đang do ông K trực tiếp nuôi dưỡng nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà N giao hai con chung cho ông K trực tiếp nuôi dưỡng. Ông K không yêu cầu cấp dưỡng nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Bà N phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi Nên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử sơ thẩm nhận định:
Về tố tụng.
Căn cứ nội dung đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp, xác định vụ việc giải quyết trên thuộc loại quan hệ về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại các Điều 28, 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bị đơn ông Lê Văn K đã được triệu tập hợp pháp lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, nên căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn.
Nội dung giải quyết.
Về quan hệ hôn nhân:
Bà Nguyễn Mai N và ông Lê Văn K tự nguyện đăng ký kết hôn và đã được Ủy ban nhân dân xã T, huyện T (nay là thị xã P), tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 21-11-2013 đúng quy định. Do đó hôn nhân của bà N, ông K là hợp pháp.
Theo bà N xác định quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc một thời gian thì phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống, công việc làm ăn không được thuận lợi nên vợ chồng thường xuyên xảy ra cải nhau, mâu thuẫn ngày càng nhiều. Ngoài ra nguyên nhân mâu thuẫn một phần ông K nghe lời mẹ ruột nên thường xuyên N ngờ, nghen tuông vô cớ với bà N. Đồng thời ông K thường xuyên có hành vi bạo lực với bà N. Vợ chồng đã tìm cách khắc phục nhưng không có kết quả. Do mâu thuẫn ngày càng trầm trọng nên từ khi bà N sinh con thứ hai được 6 tháng thì vợ chồng đã không còn chung sống với nhau.
Xét lời khai của bà N tuy chỉ một phía, nhưng phù hợp với kết quả xác minh tại địa phương. Ngoài ra, trong quá trình tố tụng Tòa án đã tổ chức hòa giải để vợ chồng đoàn tụ, nhưng ông K vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án, không muốn hàn gắn tình cảm với bà N. Do đó, nhận thấy hôn nhân của bà N, ông K đã mâu thuẫn đến mức trầm trọng và không thể hàn gắn được nên cần chấp nhận yêu cầu của bà N, cho bà N được ly hôn với ông K là phù hợp.
Về con chung: Bà Nguyễn Mai N và ông Lê Văn K có hai con chung là Lê Nguyễn Đông N, sinh ngày 17-08-2013 và Lê Nguyễn Tuyết N, sinh ngày 02-01-2015. Xét yêu cầu của bà N về giao hai con chung cho ông K trực tiếp nuôi dưỡng thì thấy: Theo lời trình bày của bà N, cháu Đông N, Tuyết N và kết quả xác minh tại địa phương xác định hiện tại hai con chung do ông K trực tiếp nuôi dưỡng và được chăm sóc phát triển bình thường. Để đảm bảo sự phát triển ổn định của cháu Đông N, Tuyết N cần tiếp tục giao các cháu cho ông K trực tiếp nuôi dưỡng, là phù hợp với điều kiện thực tế và nguyện vọng của con chung. Do đó, yêu cầu của bà N về việc giao con chung cho ông K trực tiếp nuôi dưỡng được chấp nhận. Ông K không có yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên bà N không phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà N, ông K không yêu cầu nên không xem xét.
Về án phí: Bà N phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bà N, ông K được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 56, 57, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình; các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Mai N.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Mai N được ly hôn với ông Lê Văn K.
- Về con chung: Bà Nguyễn Mai N và ông Lê Văn K có hai con chung là Lê Nguyễn Đông N, sinh ngày 17-08-2013 và Lê Nguyễn Tuyết N, sinh ngày 02-01-2015.
Giao con chung Lê Nguyễn Đông N và Lê Nguyễn Tuyết N cho ông Lê Văn K trực tiếp nuôi dưỡng đến trưởng thành (đủ 18 tuổi). Bà Nguyễn Mai N không phải cấp dưỡng nuôi con.
Bà Nguyễn Mai N có quyền và nghĩa vụ thăm, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được ngăn cản. Bà N không được lợi dụng quyền thăm nom gây cản trở quyền trực tiếp nuôi con của người trực tiếp nuôi con. Vì lợi ích mọi mặt của con, trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể thay đổi việc cấp dưỡng nuôi con, người trực tiếp nuôi con hoặc có sự thay đổi khác.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không giải quyết
2. Án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà Nguyễn Mai N phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà N đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0006479 ngày 10 tháng 10 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Phú Mỹ. Như vậy, bà N đã nộp đủ tiền án phí.
3. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc bản án được niêm yết công khai yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND thị xã Phú Mỹ; - TAND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; - Chi cục THADS thị xã Phú Mỹ; - UBND xã Tân Hải; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Huỳnh Thanh Trà |