vanban.org

Bản án 03/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn N: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Đặng Thị Ngọc T. Bà Đặng Thị Ngọc T được ly hôn ông Võ Việt N.

Về con chung: Giao cháu Võ Thiên Ân, sinh ngày 17/01/2014 cho bà Đặng Thị Ngọc T tiếp tục trông nom, nuôi dưỡng và giáo dục theo nguyện vọng của con. Không ai được quyền cản trở bà Đặng Thị Ngọc T trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Võ Thiên Ân, cũng như cản trở ông Võ Việt N thăm nom con… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "T và N"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn N: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Đặng Thị Ngọc T. Bà Đặng Thị Ngọc T được ly hôn ông Võ Việt N.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN N DÂN
THỊ XÃ DUYÊN HẢI
TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2022/HNGĐ-ST
Ngày 21-02-2022
V/v: Tranh chấp ly hôn và nuôi con.

N DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN N DÂN THỊ XÃ DUYÊN HẢI, TỈNH TRÀ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Tấn Thanh

Các Hội thẩm N dân:

1. Ông Trần Văn Nước

2. Ông Hà Văn Quen

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Vĩnh Lâm – Thẩm tra viên Tòa án N dân thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh.

- Kiểm sát viên Viện kiểm sát N dân thị xã Duyên Hải tham gia phiên tòa: Ông Trương Thanh Hà, Kiểm sát viên.

Trong ngày 21 tháng 02 năm 2022, tại phòng xử án Tòa án N dân thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 133/2021/TLST- HNGĐ ngày 05 tháng 8 năm 2021 về việc “Tranh chấp ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 01 năm 2022 và Thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa số: 07/TB-TA ngày 16 tháng 02 năm 2022, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Đặng Thị Ngọc T, sinh năm 1982 (Có mặt)

Địa chỉ: Ấp H, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh

Chổ ở: Khóm A, Phường B, thị xã D, tỉnh Trà Vinh

Bị đơn: Ông Võ Việt N, sinh năm 1978 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Khóm C, Phường D, thị xã D, tỉnh Trà Vinh

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 15 tháng 7 năm 2021 và trong quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn bà Đặng Thị Ngọc T đã trình bày như sau:

- Về hôn N: Bà và anh Võ Việt N tự nguyện tiến tới hôn N và đăng ký kết hôn ngày 10/8/2013 tại UBND xã Long Toàn. Trong thời gian chung sống vợ chồng bà xảy ra mâu thuẫn vào tháng 11/2018. Nguyên N là do ông N ham chơi cờ bạc, gây ra nợ nần. Đỉnh điểm mâu thuẫn của vợ chồng là vào tháng 6/2020, ông N về nhà kêu bà trả tiền nợ nhưng do số tiền quá lớn nên bà không có khả năng trả từ đó vợ chồng cải nhau và sống ly thân. Nay bà T cho rằng không còn tình cảm với ông N nên yêu cầu được ly hôn ông N.

- Về con chung: bà T khai bà và ông N có con chung là Võ Thiên Ân, sinh ngày 17/01/2014. Con hiện bà đang nuôi nên yêu cầu được quyền tiếp tục nuôi con.

- Về cấp dưỡng nuôi con: Bà T xin rút lại yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Bà T khai vợ chồng bà không có nợ chung.

Bị đơn ông Võ Việt N đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án nhưng không nộp văn bản nêu ý kiến của bị đơn về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tòa án cũng không lấy được lời khai của bị đơn.

Tại phiên tòa, nguyên đơn có mặt vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến tại phiên tòa như sau:

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án, Thẩm phán đã thực hiện đúng quy định pháp luật.

- Việc tuân theo pháp luật của Thư ký phiên tòa và Hội đồng xét xử: Thư ký phiên tòa và Hội đồng xét xử có mặt tại Tòa đã thực hiện đúng các thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Đối với việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Riêng bị đơn chưa thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình. Tại phiên tòa, nguyên đơn có mặt chấp hành tốt nội quy phiên tòa.

- Về nội dung vụ án:

+ Về hôn N: Căn cứ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Kiểm sát viên đề nghị chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Đặng Thị Ngọc T.

+ Về con chung: Vị Kiểm sát viên đề nghị giao con chung là Võ Thiên Ân, sinh ngày 17/01/2014 cho bà Đặng Thị Ngọc T nuôi dưỡng theo nguyện vọng của con.

+ Về cấp dưỡng nuôi con: Bà T rút lại yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên đề nghị đình chỉ xét xử theo quy định.

+ Về tài sản chung: Bà T không có yêu cầu chia tài sản chung, còn ông N chưa có ý kiến về tài sản chung của vợ chồng nên đề nghị không xem xét.

+ Về nợ chung: Bà T khai bà và ông N không có nợ chung; ông N cũng chưa có ý kiến về nợ chung nên đề nghị không xem xét.

+ Về án phí: Nguyên đơn bà T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

- Về kiến nghị khắc phục: Không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp: bà Đặng Thị Ngọc T khởi kiện yêu cầu ly hôn anh Võ Việt N và yêu cầu giải quyết việc nuôi con giữa bà T và anh N. Đây là tranh chấp về ly hôn, nuôi con thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn anh Võ Việt N có hộ khẩu thường trú tại Khóm C, Phường D, thị xã D, tỉnh Trà Vinh. Căn cứ điểm a, khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án N dân thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh có thẩm quyền giải quyết vụ án.

Về sự vắng mặt của đương sự: Ông Võ Việt N là bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai. Vì vậy, Hội đồng xét xử xem xét ý kiến của nguyên đơn và Kiểm sát viên tại phiên tòa và căn cứ quy định tại các Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt ông Võ Việt N.

Về quan hệ hôn N: Bà Đặng Thị Ngọc T và anh Võ Việt N tự nguyện tiến tới hôn N và có đăng ký kết hôn ngày 10/8/2013 tại UBND xã Long Toàn theo đúng quy định pháp luật. Vì vậy, hôn N của bà T và ông N là hợp pháp và được pháp luật bảo vệ. Theo bà T trong thời gian chung sống, giữa bà và ông N có xảy ra mâu thuẫn do ông N chơi cờ bạc rồi sinh nợ nần. Kết quả xác minh của Tòa án thể hiện giữa bà T và anh N có mâu thuẫn, tuy không rõ lý do cụ thể nhưng thực tế là ông N và bà T đã ly thân. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tổ chức hòa giải tạo điều kiện để bà T và ông N đoàn tụ tiếp tục chung sống nhưng bà T vẫn cương quyết ly hôn ông N. Còn ông N không đến Tòa án dự phiên họp hòa giải. Khi Tòa án đưa vụ án ra xét xử, bà T vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Hội đồng xét xử thấy rằng vợ chồng muốn được hạnh phúc là phải cùng yêu thương nhau, cùng chung sống và cùng mong muốn xây đắp gia đình hạnh phúc. Tuy nhiên sau khi Tòa án tổ chức hòa giải, bà T một mực cương quyết yêu cầu ly hôn ông N vì cho rằng không còn tình cảm với ông N và không muốn tiếp tục chung sống với ông N. Điều này cho thấy khả năng để bà T và anh N đoàn tụ để chung sống là rất khó thực hiện được. Bà T và ông N hiện tại đang sống ly thân. Từ đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn N và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Đặng Thị Ngọc T như đề nghị của vị Kiểm sát viên.

Về nuôi con: Bà Đặng Thị Ngọc T và ông Võ Việt N có con chung là Võ Thiên Ân, sinh ngày 17/01/2014. Cháu Ân hiện đang sống chung với bà T và có nguyện vọng được tiếp tục chung sống với bà T. Sau khi xem hết các điều kiện nuôi con của bà T, Hội đồng xét xử thấy giao cháu Ân cho bà Đặng Thị Ngọc T tiếp tục trông nom, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp nguyện vọng của con, đúng quy định pháp luật, đảm bảo quyền lợi mọi mặt cho con.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà Đặng Thị Ngọc T là người được giao nuôi con chung nhưng rút lại yêu cầu cấp dưỡng nuôi con và có ý kiến là không yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Sau khi ly hôn, bà Đặng Thị Ngọc T có quyền yêu cầu ông Võ Việt N cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.

Về tài sản chung: Bà T không có yêu cầu chia tài sản chung; ông N chưa có ý kiến về tài sản chung nên Hội đồng xét xử ghi nhận và không xem xét giải quyết.

Về nợ: Bà T khai bà và ông N không có nợ chung; ông N cũng chưa có ý kiến về nợ chung nên Hội đồng xét xử ghi nhận và không xem xét giải quyết.

Về án phí: Bà T không thuộc trường hợp được miễn, giảm án phí hoặc không phải nộp án phí. Vì vậy, bà T là nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm (ly hôn) là 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147, Điều 227, 228, 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 51, khoản 1 Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn N và gia đình năm 2014;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

1. Về quan hệ hôn N: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Đặng Thị Ngọc T. Bà Đặng Thị Ngọc T được ly hôn ông Võ Việt N.

2. Về con chung: Giao cháu Võ Thiên Ân, sinh ngày 17/01/2014 cho bà Đặng Thị Ngọc T tiếp tục trông nom, nuôi dưỡng và giáo dục theo nguyện vọng của con.

Không ai được quyền cản trở bà Đặng Thị Ngọc T trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Võ Thiên Ân, cũng như cản trở ông Võ Việt N thăm nom con chung.

Vì lợi ích của cháu Võ Thiên Ân, khi cần thiết và có yêu cầu của ông Võ Việt N hoặc cá N, tổ chức được pháp luật quy định, Tòa án sẽ xem xét giải quyết thay đổi người trực tiếp nuôi con theo quy định của pháp luật.

Nếu ông Võ Việt N lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con thì bà Đặng Thị Ngọc T có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế việc thăm nôm con của ông Võ Việt N theo quy định pháp luật.

3. Về cấp dưỡng nuôi con: Đình chỉ xét xử yêu cầu ôn Võ Việt N cấp dưỡng nuôi con là Võ Thiên Ân của bà Đặng Thị Ngọc T.

Sau khi ly hôn, bà Đặng Thị Ngọc T có quyền yêu cầu ông Võ Việt N cấp dưỡng nuôi cháu Võ Thiên Ân theo quy định pháp luật.

4. Về tài sản chung: Bà T không có yêu cầu chia tài sản chung; ông N chưa có ý kiến về tài sản chung nên không xem xét.

Sau khi ly hôn, nếu bà Đặng Thị Ngọc T và ông Võ Việt N có tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng có được trong thời kỳ hôn N thì bà T hoặc ông N có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

5. Về nợ: Bà T khai bà và anh N không có nợ chung; ông N cũng chưa có ý kiến về nợ chung nên không xem xét.

6. Về án phí: Buộc bà Đặng Thị Ngọc T chịu án dân sự sơ thẩm (ly hôn) là 300.000 đồng nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số: 0006251 ngày 30 tháng 7 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Duyên Hải. Như vậy, bà Đặng Thị Ngọc T đã nộp xong án phí. Ông Võ Việt N không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

7. Nguyên đơn bà Đặng Thị Ngọc T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn ông Võ Việt N vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể được tống đạt hợp lệ bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Cỡ chữ