- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Đỗ Thị Phương T - Phạm Văn Đ"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đỗ Thị Phương T;
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH QUẢNG NINH Bản án số: 03/2022/HNGĐ-ST Ngày: 13/01/2022 “V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI - TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Thùy Dương
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Vũ Thị Thảo
2. Bà Hoàng Thị Lan Hương
- Thư ký phiên toà: Ông Hoàng Đình Khoa - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Móng Cái
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái tham gia phiên tòa: Ông Cao Đ Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 01 năm 2022. Tại phòng xử án Toà án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 199/2021/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 12 năm 2021 về tranh chấp hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 12 năm 2021 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Đỗ Thị Phương T, sinh năm 1997
Nơi cư trú: khu 4, phường H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).
2. Bị đơn: Anh Phạm Văn Đ, sinh năm 1984
Nơi cư trú: thôn 7, xã H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh. Hiện đang chấp hành án phạt tù tại Trại giam H. Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 29/11/2021 và bản tự khai ngày 10/12/2021 nguyên đơn chị Đỗ Thị Phương T trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Đỗ Thị Phương T và anh Phạm Văn Đ kết hôn trên cơ sở tự nguyện và đăng ký kết hôn vào ngày 03 tháng 12 năm 2019, tại Ủy ban nhân dân xã H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống khoảng hơn một tháng thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh Đ không tu trí làm ăn, thường xuyên đi chơi tụ tập bạn bè không có trách nhiệm trong cuộc sống gia đình; mặt khác, anh Đ vi phạm pháp luật đang chấp hành án tại Trại giam H đóng tại thành phố C, tỉnh Hải Dương nên không có khả năng chăm sóc gia đình, mục đích hôn nhân không đạt được, chị T đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái giải quyết cho chị được ly hôn với anh Phạm Văn Đ.
- Về con chung: Chị Đỗ Thị Phương T và anh Phạm Văn Đ không có.
- Về tài sản chung, công nợ chung: Chị Đỗ Thị Phương T và anh Phạm Văn Đ không có.
Tại phiên tòa hôm nay chị T có đơn xin xử vắng mặt nhưng vẫn giữa nguyên quan điểm như đơn yêu cầu khởi kiện.
+ Tại bản tự khai ngày 13/12/2021 bị đơn anh Phạm Văn Đ trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh Phạm Văn Đ và chị Đỗ Thị Phương T có đăng ký kết hôn vào ngày 03 tháng 12 năm 2019, tại Ủy ban nhân dân xã H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh. Quá trình chung sống vợ chồng không phát sinh mâu thuẫn nhưng sau khi chung sống được khoảng hơn một tháng thì anh bị khởi tố về hành vi vi phạm pháp luật và đang chấp hành án không thể duy trì, đảm bảo hạnh phúc gia đình. Nay chị T có đơn xin ly hôn anh không đồng ý với yêu cầu xin ly hôn của chị Đỗ Thị Phương T và mong muốn gia đình được đoàn tụ.
- Về con chung: Anh Phạm Văn Đ và chị Đỗ Thị Phương T không có.
- Về tài sản chung, công nợ chung: Anh Phạm Văn Đ và chị Đỗ Thị Phương T không có.
Theo kết quả xác minh tại thôn 7, xã H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh được biết: Trong quá trình sinh sống tại địa phương anh Phạm Văn Đ là đối tượng có nhiều tiền án, tiền sự về “ma túy”, sau khi kết hôn anh Đ và chị T sống với nhau được một thời gian rất ngắn tại địa phương cũng không thấy mâu thuẫn gì đến mức phải can thiệp. Tuy nhiên, khoảng đầu năm 2020 anh Đ có hành vi vi phạm pháp luật bị khởi tố, truy tố và bị xét xử đây cũng là nguyên nhân chính dẫn đến những mâu thuẫn giữa chị T và anh Đ.
Trong quá trình giải quyết vụ án anh Phạm Văn Đ có đơn trình bày xin vắng mặt tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải. Tại phiên tòa hôm nay anh Đ có đơn xin xử vắng mặt nhưng vẫn giữa nguyên quan điểm như nội dung bản tự khai ngày 13/12/2021.
Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã công bố tóm tắt nội dung vụ án và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án như lời khai và biên bản xác minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tại phiên tòa:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình thụ lý, giải quyết và xét xử đã đảm bảo đầy đủ, đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa nguyên đơn, bị đơn vắng mặt nhưng đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên đã thực hiện được quyền, nghĩa vụ tố tụng theo quy định.
- Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Đỗ Thị Phương T. Về con chung, về tài sản chung, công nợ chung: Không có nên không đặt ra xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Về quan hệ tranh chấp chị Đỗ Thị Phương T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn có đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn 7, xã H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái.
Về sự vắng mặt của đương sự, nguyên đơn chị Đỗ Thị Phương T và bị đơn anh Phạm Văn Đ có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Do vậy Hội đồng xét xử, xử vắng mặt chị T và anh Đ theo quy định tại khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân giữa chị Đỗ Thị Phương T và anh Phạm Văn Đ kết hôn tuân thủ các điều kiện kết hôn và thủ tục kết hôn theo quy định tại Điều 8; Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình, do đó quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh Đ là hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.
Hội đồng xét xử nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng chị T, anh Đ là do anh Đ không tu trí làm ăn, chơi bời dẫn đến vi phạm pháp luật không có trách nhiệm trong cuộc sống gia đình; mặc dù, chị T và anh Đ mới kết hôn và chung sống với nhau trong một thời gian rất ngắn nhưng vợ chồng đã xảy ra mâu thuẫn, từ đó mâu thuẫn vợ chồng ngày một rạn nứt trầm trọng. Từ những nhận định trên, đủ cơ sở xác định mâu thuẫn giữa chị T, anh Đ đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy yêu cầu xin ly hôn của chị Đỗ Thị Phương T là có căn cứ phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình nên chấp nhận.
Về con chung: Chị Đỗ Thị Phương T và anh Phạm Văn Đ không có con chung nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Về tài sản chung, công nợ chung: Chị Đỗ Thị Phương T và anh Phạm Văn Đ không có nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Về án phí: Chị Đỗ Thị Phương T phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238; Điều 271 và khoản 1 điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đỗ Thị Phương T;
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Đỗ Thị Phương T được ly hôn anh Phạm Văn Đ.
2. Về án phí: Chị Đỗ Thị Phương T phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số: 0007539, ngày 06 tháng 12 năm 2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Móng Cái; chị T đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND thành phố Móng Cái; - TAND tỉnh Quảng Ninh; - UBND xã H, TP. Móng Cái; - Lưu HS vụ án; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà (đã ký) Nguyễn Thùy Dương |