- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "chị H xin ly hôn với anh Th"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thu H về việc ly hôn và nuôi con đối với anh Nguyễn Khắc THnh.
- Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH LINH TỈNH QUẢNG TRỊ ——————— | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 03/2022/HNGĐ-ST Ngày 23-3-2022 “V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH LINH, TỈNH QUẢNG TRỊ
- Với THnh phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Văn Chung;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Ngọc Quang.
Bà Hồ Thị Thoa .
- Thư ký phiên Tòa: Ông Trương Hồng Quang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị.
Ngày 23 tháng 3 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Linh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 188/2021/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 12 năm 2021 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 3 năm 2022, giữa:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1979.
Trú tại: Thôn L H, xã Vĩnh Thủy, huyện Vĩnh Linh, Quảng Trị. Có mặt.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Khắc Th, sinh năm 1976.
Trú tại: Thôn LH, xã Vĩnh Thủy, huyện Vĩnh Linh, Quảng Trị. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 18/11/2021, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thu H trình bày:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thu H và anh Nguyễn Khắc THnh đăng ký kết hôn tại UBND xã Vĩnh Thủy, huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị vào năm 2000. Sau khi kết hôn cuộc sống vợ chồng yên ổn, hạnh phúc. Nhưng từ năm 2019, vợ chồng đã xảy ra nhiều mâu thuẫn với lý do vợ chồng thường xuyên cải vả, xác phạm nhau dẫn đến xô xát, anh THnh đã quan hệ ngoài hôn nhân. Anh THnh không quan tâm vợ con, gia đình. Nay mâu thuẫn đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị H có nguyện vọng xin được ly hôn anh Nguyễn Khắc THnh.
2. Về con chung: Vợ chồng sinh được bốn người con tên là: Nguyễn Khắc H, sinh năm 1999, đã thành niên; Nguyễn Khắc Đ, sinh 21/12/2003 đã thành niên; Nguyễn Khắc H, sinh 07/3/2007; Nguyễn Khắc H, sinh 03/02/2009. Nếu Tòa án giải quyết ly hôn, chị H có nguyện vọng nuôi dưỡng hai cháu là Nguyễn Khắc H, Nguyễn Khắc Hg, không yêu cầu anh THnh cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Nguyễn Khắc THnh trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh THnh thống nhất với ý kiến trình bày của chị Nguyễn Thị Thu H. Anh THnh đồng ý có xảy ra mâu thuẫn, nhưng anh THnh vẫn thương yêu vợ con và mong muốn được đoàn tụ để nuôi dạy con cái nên người.
Về con chung: Anh THnh đồng ý như chị H trình bày về con chung. Nếu ly hôn anh THnh có nguyện vọng xin được trực tiếp nuôi hai con là Nguyễn Khắc H, Nguyễn Khắc H, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:
. Về tố tụng:
. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Chị Nguyễn Thị Thu H và anh Nguyễn Khắc THnh có quan hệ hôn nhân hợp pháp, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Thủy, huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị ngày 21/5/2000. Nguyên đơn chị H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, nuôi con với anh Nguyễn Khắc THnh nên Hội đồng xét xử xác định đây là quan hệ pháp luật “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
. Về thẩm quyền giải quyết: Do bị đơn anh Nguyễn Khắc THnh có địa chỉ cư trú tại xã Vĩnh Thủy, huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị nên vụ án tranh chấp trên thuộc thẩm quyển giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Linh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
. Về nội dung:
. Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa anh chị Nguyễn Thị Thu H và anh Nguyễn Khắc THnh là hôn nhân hợp pháp vì anh chị có đăng ký kết hôn theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình. Sau khi đăng ký kết hôn năm 2000, cuộc sống vợ chồng đầm ấm, hạnh phúc, anh chị sinh được bốn người con, vợ chồng tu chí làm ăn. Nhưng từ năm 2019, cuộc sống vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn, hay cải vả, xúc phạm nhau dẫn đến xô xát. Anh Nguyễn Khắc THnh có quan hệ ngoài hôn nhân, thường xuyên vắng nH, không quan tâm đến vợ con, gia đình. Đã nhiều lần chị H khuyên nhủ, mong anh THnh thay đổi nhưng không tHnh, nhưng không được. Mỗi lần về nH là dọa nạt, đuổi đánh vợ con, không chu cấp tiền để chị H trang trãi cuộc sống gia đình mà thờ ơ, lạnh nhạt, chị H thấy tình cảm vợ chồng không còn nên gửi đơn lên tòa án Vĩnh Linh xin ly hôn.
Tòa án đã tiến Hnh hòa giải nhiều lần để Hn gắn tình cảm vợ chồng và cũng cho thời gian hai bên nhìn nhận lại vấn đề tình cảm cũng như cuộc sống vợ chồng, để xây dựng hạnh phúc. Tuy nhiên mâu thuẫn vẫn tiếp diễn chứng tỏ tình cảm vợ chồng không thể Hn gắn. Ngoài ra chính quyền địa phương nơi chị H đang cư trú đã có xác nhận tình cảm vợ chồng có mâu thuẫn, đời sống chung không thể kéo dài. HĐXX thấy, mâu thuẫn vợ chồng giữa chị H và anh THnh đã đến mức trầm trọng mục đích hôn nhân không đạt, tình cảm vợ chồng không còn, nên có cơ sở cho chị H ly hôn với anh THnh.
. Về con chung: Quá trình chung sống chị H và anh THnh có 04 người con chung tên: Nguyễn Khắc H, sinh năm 1999, đã tHnh niên; Nguyễn Khắc Đ, sinh 21/12/2003 đã thành niên; Nguyễn Khắc H, sinh 07/3/2007; Nguyễn Khắc H sinh 03/02/2009. Chị H và anh THnh có đủ sức khỏe để lao động, có thu nhập nên cả hai đều có nguyện vọng xin nuôi con là chính đáng. Tuy nhiên HĐXX nhận thấy; Qua xem xét tài liệu, chứng cứ về điều kiện kinh tế, vật chất, môi trường sống thấy rằng: Chị H từ trước đến nay là người trực tiếp nuôi con, lo cho các cháu ăn học. Mặt khác hai cháu Nguyễn Khắc H và Nguyễn Khắc H đều đã trên 7 tuổi, đều đã có ý kiến nguyện vọng xin ở với mẹ, đây nguyện vọng chính đáng của các cháu phù hợp với quy định của pháp luật. Hiện các cháu đang học tập tốt, sức khỏe bình thường, chị H vẫn chăm sóc con an học đàng hoàng. Vì vậy, căn cứ vào khoản 2 Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và để đảm bảo vệ quyền, lợi ích của trẻ em, nên HĐXX chấp nhận yêu cầu của chị H, giao hai cháu Nguyễn Khắc H, sinh 07/3/2007; Nguyễn Khắc H, sinh 03/02/2009 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Nguyễn Khắc THnh không phải cấp dưỡng nuôi con, có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con mà không ai được ngăn cản.
. Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét giải quyết.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thu H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 266, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào điểm a, d khoản 5, khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án năm 2016.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thu H về việc ly hôn và nuôi con đối với anh Nguyễn Khắc THnh.
- Về tình cảm: Chị Nguyễn Thị Thu H được ly hôn anh Nguyễn Khắc THnh.
- Về con chung: Giao hai cháu Nguyễn Khắc Huy, sinh 07/3/2007; Nguyễn Khắc Hoàng, sinh 03/02/2009 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Nguyễn Khắc THnh không phải cấp dưỡng nuôi con, có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con mà các tHnh viên trong gia đình chị Nguyễn Thị Thu H không ai được ngăn cản.
2. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thu H chịu 300.000 đồng án phí DSST về việc ly hôn, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị H đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu số 0000052 ngày 09/12/2021 của Chi cục thi Hnh án Dân sự huyện Vĩnh Linh. Chị Nguyễn Thị Thu H đã nộp đủ tiền án phí DSST.
5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án 23/3/2022.
| Nơi nhận: - TAT Quảng Trị; - VKSND huyện Vĩnh Linh; - Chi cục THADS huyện Vĩnh Linh; - UBND xã Vĩnh Thủy, Vĩnh Linh; - Các đương sự; - Lưu VT; Hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Văn Chung |