vanban.org

Bản án 03/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thanh D.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thanh D ly hôn với anh Nguyễn Thái H. Về con chung: Tiếp tục giao cháu Nguyễn Ngọc Hải Y, sinh ngày 23/7/2010 và cháu Nguyễn Ngọc Phương T, sinh ngày 20/9/2012 cho chị D trực tiếp, trông nom, chăm sóc giáo dục, nuôi dưỡng. Anh H không cấp dưỡng nuôi con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hon"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thanh D.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂN HIỆP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH KIÊN GIANG
Bản án số:03/2022/HNGĐ-ST
Ngày 25/01/2022
V/v “ Tranh chấp ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN HIỆP, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Danh Vũ

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Từ Tứ Hải

2. Bà Phan Thị Trúc Phương

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Cẩm Ni, thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Không tham gia phiên tòa.

Trong ngày 25 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 48/2021/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 3 năm 2021 về việc “ Tranh chấp ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 12 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 38/2021 ngày 29 tháng 12 năm 2021 giữa các đương sự:

1/. Nguyªn ®¬n: Chị Nguyễn Thị Thanh D, sinh năm: 1984 (Có mặt)

§Þa chØ: ấp L, xã A, huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang.

2/. BÞ ®¬n: Anh Nguyễn Thái H, sinh năm: 1982 (vắng mặt)

§Þa chØ: Số 7, ấp L, xã A, huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 17/02/2021 và các lời khai có trong hồ sơ vụ án tại phiên tòa Nguyễn Thị Thanh D trình bày:

Chị Nguyễn Thị Thanh D và anh Nguyễn Thái H chung sống với nhau vào năm 2009, có tổ chức đám cưới có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang số 200/2009, quyển số I/2009 ngày 25/12/2009. Trước khi chung sống vợ chồng có tìm hiểu nhau trước mới tiến tới hôn nhân, hôn nhân tự nguyện, không bị cưỡng ép.

Quá trình chung sống thời gian đầu hạnh phúc, ®Õn tháng 10 năm 2016, th× ph¸t sinh m©u thuÉn. Nguyªn nh©n m©u thuÉn do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống, có lối sống không phù hợp, áp lực cuộc sống của vợ chồng, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng từ đó vợ chồng rạng nứt tình cảm. Nay, chị D không thể chịu đựng được nữa cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vợ chồng ly thân từ năm 2017 cho đến nay.

- Veà con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Ngọc Hải Y, sinh ngày 23/7/2010 và Nguyễn Ngọc Phương T, sinh ngày 20/9/2012 các cháu đã có giấy khai sanh và đang ở với chị D.

- Veà taøi saûn chung cuûa vôï choàng: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Veà phaàn nôï: Vợ chồng không nợ ai, cũng không ai nợ vợ chồng.

Tại phiên tòa chị D vẫn giữ nguyên yêu cầu:

- Veà quan heä hoân nhaân: Chị D yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Thái H.

- Veà con chung: Chị D yêu cầu được nuôi hai con tên Nguyễn Ngọc Hải Y, sinh ngày 23/7/2010 và Nguyễn Ngọc Phương T, sinh ngày 20/9/2012, không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.

- Veà taøi saûn chung và nợ chung cuûa vôï choàng: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Theo bản tự khai ngày 29 tháng 3 năm 2021 anh Nguyễn Thái H trình bày;

Qua lời trình bày của cô D về năm chung sống, vợ chồng có đăng ký kết hôn, có 02 con chung, quá trình chung sống vợ chồng không tạo dựng được tài sản chung, không có nợ ai và cũng không ai nợ vợ chồng là đúng.

Nguyên nhân mâu thuẫn anh H cho rằng: Do trước đây vào khoảng năm 2015 anh có đánh cờ tướng thua khoảng 3-4 triệu gì đó nên chị D giận và bỏ nhà đi từ năm 2015 cho đến nay. Hiện nay vợ chồng đã ly thân từ năm 2017 cho đến nay.

Tại Tòa án anh H có ý kiến như sau:

- Veà quan heä hoân nhaân: Anh không đồng ý ly hôn với chị Nguyễn Thị Thanh D. Nếu chị D cương quyết xin ly hôn thì chị D đơn phương ly hôn và Tòa án cứ căn xử xử theo quy định pháp luật vì anh là người theo đạo nên anh không ký vào biên bản ly hôn.

- Veà con chung: Anh H yêu cầu được nuôi con tên Nguyễn Ngọc Hải Y, sinh ngày 23/7/2010 và Nguyễn Ngọc Phương T, sinh ngày 20/9/2012, không yêu cầu chị D cấp dưỡng nuôi con.

- Về taøi saûn chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Veà phaàn nôï: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Theo biên bản ghi nhận nguyện vọng ngày 29/3/2021 của cháu Nguyễn Ngọc Hải Y, sinh ngày 23/7/2010 và cháu Nguyễn Ngọc Phương T, sinh ngày 20/9/2012 thì hai cháu có nguyện vọng ở với mẹ chị Nguyễn Thị Thanh D.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là tranh chấp ly hôn, bị đơn anh Nguyễn Thái H đang cư trú tại số 7, ấp L, xã A, huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28; Điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa anh Nguyễn Thái H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần hai để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh Nguyễn Thái H.

Về quan hệ hôn nhân: Xét mối quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Thanh D và anh Nguyễn Thái H được xác lập trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang số 200/2009, quyển số I/2009 ngày 25/12/2009 là phù hợp với quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.

Xét yêu cầu xin được ly hôn của chị Nguyễn Thị Thanh D Hội đồng xét xử thấy rằng sau khi kết hôn, chị D và anh Thái H chung sống hạnh phúc, đến tháng 10 năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyªn nh©n m©u thuÉn do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống, có lối sống không phù hợp, áp lực cuộc sống của vợ chồng, vẫn đến cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc, từ đó làm cho mâu thuẫn vợ chồng ngày càng thêm trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị D và anh H đã ly thân từ năm 2017 cho đến nay. Trong thời gian ly thân không ai quan tâm đến ai, không chăm sóc, giúp đỡ nhau điều này chứng tỏa tình trạng hôn nhân không đạt được mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, không thể hiện được tình nghiã vợ chồng được quy định tại Điều 19 Luật hôn nhân gia đình “ Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau;…. Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau,….”.

Xét lời khai nại của anh Nguyễn Thái H cho rằng anh không đồng ý ly hôn với chị Nguyễn Thị Thanh D Hội đồng xét xử xét thấy: Quá trình chung sống thời gian đầu giữa anh H và chị D hạnh phúc, đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn anh H cho rằng do anh đánh cờ tướng thua khoảng 3 đến 4 triệu đồng từ đó làm cho chị D giận và bỏ nhà đi từ đó cho đến nay. Từ năm 2016 cho đến nay giữa anh H và chị D không còn liên lạc với nhau và anh chị đã ly thân với nhau năm 2017 cho đến nay, đều đó cho thấy hôn nhân giữa anh H và chị D đã lâm vào trình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

Quá trình giải quyết vụ án Tòa án tiến hành hòa giải động viên chị D quay về đoàn tụ với anh H để tiếp tục cuộc sống vợ chồng và nuôi dạy con chung, nhưng chị D cương quyết xin được ly hôn với anh Nguyễn Thái H.

Theo khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “ Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được”.

Từ những căn cứ nêu trên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Thanh D.

Về con chung: Chị Nguyễn Thị Thanh D và anh Nguyễn Thái H xác nhận vợ chồng có 02 con chung tên Nguyễn Ngọc Hải Y, sinh ngày 23/7/2010 và cháu Nguyễn Ngọc Phương T, sinh ngày 20/9/2012 hiện nay hai cháu đang ở với chị D. Anh H và chị D đều yêu cầu nuôi con.

Xét yêu cầu xin được nuôi con của chị D và anh H đều là chính đáng và phù hợp với quy định pháp luật. Nhưng từ sau ngày Tòa án tiến hành hòa giải 29/3/2021anh H đã giao hai cháu Nguyễn Ngọc Hải Y và Nguyễn Ngọc Phương T cho chị D trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục nuôi dưỡng cho đến nay. Theo nguyện vọng của cháu Hải Y và cháu Phương T thì hai cháu có nguyện vọng ở với mẹ chị Nguyễn Thị Thanh D.

Khoản 2 Điều 81 luật hôn nhân gia đình năm 2014 quy định: “ Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”.

Từ những Điều luật quy định Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin được nuôi con của chị Nguyễn Thị Thanh D. Tiếp tục giao cháu Nguyễn Ngọc Hải Y, sinh ngày 23/7/2010 và cháu Nguyễn Ngọc Phương T, sinh ngày 20/9/2012 cho chị D trực tiếp, trông nom, chăm sóc giáo dục, nuôi dưỡng. Anh H không cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn anh H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở, đồng thời anh H không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Các đương sự có quyền khởi kiện bằng một vụ án khác về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con chung và mức cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Thanh D phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm.

Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 khoản 4 Điều 147 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ vào Điều 56,81,82,83 và Điều 84 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thanh D.

2.Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thanh D ly hôn với anh Nguyễn Thái H.

3. Về con chung: Tiếp tục giao cháu Nguyễn Ngọc Hải Y, sinh ngày 23/7/2010 và cháu Nguyễn Ngọc Phương T, sinh ngày 20/9/2012 cho chị D trực tiếp, trông nom, chăm sóc giáo dục, nuôi dưỡng. Anh H không cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn anh H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở, đồng thời anh H không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Các đương sự có quyền khởi kiện bằng một vụ án khác về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con chung và mức cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.

4.Về tài sản chung và nợ chung: không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

5.Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Chị Nguyễn Thị Thanh D phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số: 0008230 ngày 08/3/2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang. Chị D đã nộp đủ.

6. Quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị Thanh D có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Nguyễn Thái H Của có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

7. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ