vanban.org

Bản án 03/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Xử cho chị Phạm Thị LA được ly hôn anh Phạm Văn Đ.

Về con cái: Giao cháu Phạm Tuấn T, sinh ngày 20/01/2020 cho chị A trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Đ cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng là 1.500.000đ (Một triệu năm trăm ngàn đồng). Thời gian cấp dưỡng từ tháng 01/2022 cho đến khi cháu T đủ 18 tuổi. Anh Đ có quyền qua lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Xử cho chị Phạm Thị LA được ly hôn anh Phạm Văn Đ.
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử; Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NL
TỈNH THANH HOÁ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 19 - 01 - 2022
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NL TỈNH THANH HOÁ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Tân

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Văn Điểm

Bà Lê Thị Ngân

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Mỹ Duyên - Thư ký Toà án nhân dân huyện NL, tỉnh Thanh Hoá.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện NL, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Thuý - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện NL, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 205/2021/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 10 năm 2021 về Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 75/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 12 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên toà số 62/2021/QĐST-HNGĐ ngày 28 tháng 12 năm 2021, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị LA; sinh năm: 1997; HKTT: Khu phố CP, thị trấn NL, huyện NL, tỉnh Thanh Hoá; chỗ ở hiện nay: Thôn ĐS, xã TL, huyện NL, tỉnh Thanh Hoá.

- Bị đơn: Anh Phạm Văn Đ; sinh năm: 1994; HKTT: Khu phố CP, thị trấn NL, huyện NL, tỉnh Thanh Hoá; chỗ ở hiện nay: Khu phố CP, thị trấn NL, huyện NL, tỉnh Thanh Hoá.

Tại phiên toà vắng mặt chị A, anh Đ. Chị A đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh Đ vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 13/9/2021 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Phạm Thị LA trình bày: Chị và anh Phạm Văn Đ kết hôn tự nguyện, đăng ký ngày 27/12/2019 tại Uỷ ban nhân dân (sau đây viết tắt là UBND) thị trấn NL, huyện NL, tỉnh Thanh Hoá. Sau ngày cưới, cuộc sống vợ chồng hoà thuận được 03 tháng thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không hợp, bất đồng quan điểm, thường xuyên xảy ra cãi vã. Hai bên gia đình đã khuyên giải nhưng không có kết quả. Vợ chồng đã sống ly thân từ đầu năm 2021 cho đến nay, không ai quan tâm tới ai. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, nên chị yêu cầu Toà án giải quyết cho chị được ly hôn anh Đ.

Về con cái: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Phạm Tuấn T, sinh ngày 20/01/2020. Hiện cháu đang ở với chị. Nếu ly hôn, chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu T, yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng là 1.500.000đ (Một triệu năm trăm ngàn đồng). Thời gian cấp dưỡng từ nay cho đến khi cháu T đủ 18 tuổi.

Về tài sản: Chị A không yêu cầu Toà án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã triệu tập hợp lệ anh Phạm Văn Đ để làm bản tự khai, trình bày ý kiến về những nội dung yêu cầu khởi kiện của chị Anh nhưng anh Đ không có mặt nên không có lời khai của anh Đ và các bên không thống nhất được các vấn đề cần giải quyết trong vụ án.

Ý kiến của Viện kiểm sát:

Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử (sau đây viết tắt là HĐXX), Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự (sau đây viết tắt là BLTTDS); chị Anh đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định của pháp luật, anh Đ không thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án: Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 51; 56; 57; 58; 81; 82; 83 Luật hôn nhân và gia đình: Xử cho chị Phạm Thị LA được ly hôn anh Phạm Văn Đ. Giao cháu Phạm Tuấn T, sinh ngày 20/01/2020 cho chị Anh trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Đ cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng là 1.500.000đ (Một triệu năm trăm ngàn đồng). Thời gian cấp dưỡng từ tháng 01/2022 cho đến khi cháu T đủ 18 tuổi.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định:

Về tố tụng:

Tòa án đã thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho các bên đương sự nhưng anh Phạm Văn Đ không có mặt nên Tòa án đã thông báo kết quả kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho anh Đ theo quy định tại khoản 3 điều 210 BLTTDS.

Anh Đ đã được triệu tập hợp lệ đến phiên hoà giải hai lần nhưng anh Đ đều không đến để tham gia hoà giải nên Toà án không tiến hành hoà giải được. Đây là trường hợp không tiến hành hoà giải được theo quy định tại khoản 1 điều 207 BLTTDS.

Toà án cũng đã triệu tập hợp lệ anh Đ lần thứ hai đến Tòa án để tham gia phiên toà nhưng anh Đ vẫn không có mặt mà không có lý do nên căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 điều 227, khoản 3 điều 228 BLTTDS Toà án xét xử vắng mặt anh Đ.

Chị Phạm Thị LA đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, căn cứ quy định tại khoản 1 điều 227, khoản 1 điều 228 BLTTDS, Toà án xét xử vắng mặt chị Anh.

Về hôn nhân: Chị Phạm Thị LA và anh Phạm Văn Đ kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 27/12/2019 tại UBND thị trấn NL, huyện NL, tỉnh Thanh Hoá và không vi phạm các điều cấm của Luật hôn nhân và gia đình, là hôn nhân hợp pháp. Trong cuộc sống hôn nhân, vợ chồng xảy ra mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hợp, bất đồng quan điểm. Vợ chồng đã sống ly thân từ đầu năm 2021 cho đến nay, không ai quan tâm tới ai, vấn đề này cũng đã được UBND thị trấn NL xác nhận. Tòa án cũng đã nhiều lần triệu tập anh Đ lên làm việc để anh Đ được bày tỏ quan điểm, ý kiến và nguyện vọng của mình nhưng anh Đ đều không có mặt, thể hiện anh Đ không thiết tha hàn gắn tình cảm vợ chồng. Điều đó chứng tỏ chị A, anh Đ đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không Đ được. Nghĩ nên căn cứ điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử cho chị A được ly hôn anh Đ.

Về con cái: Chị A và anh Đ có 01 con chung. Xét thấy, hiện tại cháu đang ở với chị Ah. Ngoài ra, cháu mới gần 02 tuổi, ở với mẹ sẽ tốt hơn. Để không bị xáo trộn cuộc sống và đảm bảo sự phát triển ổn định về mọi mặt cho cháu, nghĩ nên chấp nhận yêu cầu của chị A, giao cháu T cho chị A trực tiếp nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Xét thấy mức đề nghị cấp dưỡng của chị A là phù hợp, buộc anh Đ phải cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng là 1.500.000đ (Một triệu năm trăm ngàn đồng). Thời gian cấp dưỡng từ tháng 01/2022 cho đến khi cháu T đủ 18 tuổi.

Về tài sản: Chị A không yêu cầu nên miễn xét.

Về án phí: Chị A phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc xin ly hôn theo quy định của pháp luật.

Anh Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 51; 56; 57; 58; 81; 82; 83; 107; 110 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 147; 227; 228; 271; 273; 482 BLTTDS; Điều 6; điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án:

1. Về hôn nhân: Xử cho chị Phạm Thị LA được ly hôn anh Phạm Văn Đ.

2. Về con cái: Giao cháu Phạm Tuấn T, sinh ngày 20/01/2020 cho chị A trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Đ cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng là 1.500.000đ (Một triệu năm trăm ngàn đồng). Thời gian cấp dưỡng từ tháng 01/2022 cho đến khi cháu T đủ 18 tuổi.

Anh Đ có quyền qua lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị Phạm Thị LA phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc xin ly hôn, nhưng được trừ vào số tiền chị đã nộp tạm ứng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện NL, theo biên lai số AA/2019/0011779 ngày 29/10/2021. Chị A đã nộp đủ tiền án phí.

Anh Phạm Văn Đ phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc cấp dưỡng nuôi con chung.

Án xử công khai sơ thẩm. Chị A, anh Đ có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.

Khoản tiền cấp dưỡng nuôi con được thi hành ngay, mặc dù bản án có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ