vanban.org

Bản án 03/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
TÒA ÁN NHÂN DÂN
U N ĐI N BIÊN ĐÔNG
TỈN ĐI N BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2022/HNGĐ- ST
Ngày: 08 - 6 -2022
V/v: Tranh h p ly hôn,
Nuôi con khi ly hôn

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG ÒA XÃ ỘI C Ủ NG ĨA VI T NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN U N ĐI N BIÊN ĐÔNG, TỈN ĐI N BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Giang

Cá Hội thẩm nhân dân: Bà Vì Thị Lún; bà Nguyễn Thu Hiền.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lò Thị Hòa - Thư ký Tòa án nhân dân huy n Đi n Biên Đông, tỉnh Đi n Biên;

- i di n i n ki m s t nh n d n huy n i n iên ng t nh i n iên tham gia phiên tòa: Bà Cao Thị Ái - i m sát viên.

Ngày 08 tháng 6 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huy n Đi n Biên Đông, tỉnh Đi n Biên, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 25/2022/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 2 năm 2022, về vi c: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 5 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 02/2022/QĐST-HNGĐ ngày 23 tháng 5 năm 2022 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Lò Thị T, sinh năm 1999.

Nơi cư trú: Bản C B, xã X, huy n Đ, tỉnh B. Có mặt.

2. ị đơn: Anh Lò Văn C, sinh năm 1996.

Nơi cư trú: Bản C B, xã X, huy n Đ, tỉnh B. Vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 10/02/2022 và trong quá trình xét xử, Nguyên đơn hị Lò Thị T trình bày:

ề quan h hôn nhân: Chị T và anh C C sống với nhau từ năm 2016 nhưng đến ngày 07/6/2018 mới đi đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã X, huy n Đ, tỉnh B. Vi c kết hôn trên tinh thần tự nguy n, không bị ai ép buộc. Sau khi kết hôn vợ chồng C sống hạnh phúc trong th i gian đầu, nhưng đến tháng 10/2019 thì thư ng xảy ra mâu thu n do anh C không tu trí làm ăn, chị T nghi ng anh C nghi n ma túy, anh C thư ng xuyên mắng chửi và có lần đánh chị nên giữa vợ chồng bất đồng quan đi m d n đến m u thu n kéo dài. Hai vợ chồng c ng được hai bên gia đình khuyên giải hàn gắn giữ hạnh phúc gia đình nhưng không được. Nay chị T cảm thấy không th tiếp tục C sống với anh C được nữa, vợ chồng không còn hạnh phúc, hi n tình cảm giữa anh chị c ng không còn, chị T xin được ly hôn với anh C.

ề con C, con riêng: Chị T và anh C có hai con C là: Cháu Lò Anh Q, sinh ngày 22/01/2016 và cháu Lò Đức H, sinh ngày 07/12/2017. Khi ly hôn, chị T có nguy n vọng được trực tiếp nuôi cả hai con vì hi n các con còn nhỏ cần sự chăm sóc đặc bi t của ngư i mẹ. Chị T không yêu cầu giải quyết vi c cấp dưỡng nuôi con; Hi n chị T có thu nh p n định từ vi c đi làm thuê, đảm bảo điều ki n nuôi dưỡng các con.

ề tài sản: Tài sản riêng, tài sản C, nợ phải trả, nợ lấy về,di n tích ruộng nương: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

ối với bị đơn: Ngày 18/02/2022, sau khi thụ lý đơn khởi ki n của chị Lò Thị T. Tòa án nhân dân huy n Đi n Biên Đông, tỉnh Đi n Biên đã Thông báo thụ lý vụ án số 25/TB-TLV ngày 18/02/2022 và đã liên lạc đi n thoại, tống đạt các văn bản tố tụng cho anh C qua ngư i thân thích và niêm yết tại nơi cư trú, đã tri u t p hợp l anh C đến Tòa án đ giải quyết vụ án nhưng anh C v n vắng mặt không có lý do, không trình bày ý kiến và tham gia các phiên họp, phiên hòa giải, phiên tòa giải quyết vụ vi c theo quy định. Tòa án tiến hành xác minh tại nơi cư trú của anh C được biết: Nguyên nhân mâu thu n giữa anh C và chị T do tình cảm hai vợ chồng không còn như trước không tin tưởng nhau nên đã d n đến mâu thu n kéo dài, hai bên gia đình và chính quyền địa phương đã hòa giải cho anh chị nhưng không thành. Hi n anh C thư ng hay đi làm vắng nhà, thi thoảng về vài ngày rồi lại đi tiếp.

Tại phiên tòa, đại di n Vi n ki m sát nhân dân huy n Đi n Biên Đông, tỉnh Đi n Biên phát bi u ý kiến: Vi c tuân theo pháp lu t tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký trong quá trình giải quyết vụ án cho đến trước th i đi m Hội đồng xét xử nghị án đều tuần thủ các quy định của Bộ lu t tố tụng Dân sự. Nguyên đơn đã thực hi n đúng quyền và nghĩa vụ của mình; Bị đơn không có mặt theo Giấy tri u t p của Tòa án là vi phạm quy định tại Điều 70, 72 BLTTDS. Đại đi n Vi n ki m sát căn cứ điều 53, điều 56 Lu t Hôn nhân và gia đình năm 2014 đề nghị xử cho chị T được ly hôn với anh C; Căn cứ các điều 81, 82, 83, 84 Lu t Hôn nhân và gia đình 2014 giao cháu Lò nh Q và cháu Lò Đức H cho chị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục các con cho đến khi đủ tu i thành niên. Về cấp dưỡng nuôi con chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết; Anh Lò Văn C có quyền thăm con, chăm sóc con, không ai được quyền ngăn cản. Vì lợi ích của các con, quyền nuôi con và cấp dưỡng nuôi con có th được thay đ i sau ly hôn khi có yêu cầu. Miễn án phí sơ thẩm cho chị Lò Thị T.

Tại phiên tòa hôm nay chị Lò Thị T v n giữ nguyên yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, giải quyết vi c nuôi con, không yêu cầu Tòa án giải quyết vi c cấp dưỡng nuôi con và không yêu cầu Tòa án giải quyết quan h tài sản như nội dung đơn khởi ki n chị đã trình bày.

N ẬN ĐỊN CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài li u có trong hồ sơ vụ án và quá trình hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nh n định:

[1]. Về quan hệ pháp luật: Căn cứ đơn khởi ki n về vi c xin ly hôn của chị Lò Thị T đối với anh Lò Văn C và các tài li u, chứng cứ kèm theo của Nguyên đơn chị Lò Thị T, Tòa án xác định đây là vụ án: “Tranh chấp ly h n nu i con khi ly h n”.

[2]. Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn có hộ khẩu thư ng trú tại bản C B, xã X, huy n Đi n Biên Đông, tỉnh Đi n Biên nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huy n Đi n Biên Đông, tỉnh Đi n Biên theo quy định tại Khoản 1 Điều 28, Khoản 1 Điều 35, Khoản 1 Điều 39 của Bộ lu t tố tụng dân sự.

[3]. Về sự vắng mặt của đƣơng sự: Ngày 06 tháng 5 năm 2022, Tòa án nhân dân huy n Đi n Biên Đông đã ban hành Quyết định đưa vụ án ra xét xử và đã niêm yết, tống đạt hợp l cho anh Lò Văn C, nhưng anh C v n vắng mặt không có lý do. Do v y, Tòa án đã quyết định hoãn phiên tòa và tiến hành niêm yết, tống đạt Quyết định hoãn phiên tòa. Tòa án nhân dân huy n Đi n Biên Đông đã thực hi n đúng quy định tại Điều 179 của Bộ lu t tố tụng dân sự, vi c anh C không thực hi n quyền và nghĩa vụ được quy định tại các Điều 70; 72 của Bộ lu t tố tụng dân sự là do anh C đã tự bỏ quyền và nghĩa vụ của mình, bị đơn anh Lò Văn C được tri u t p hợp l , nhưng vắng mặt phiên tòa lần thứ hai không có lý do chính đáng. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ Đi m b hoản 2 Điều 227 và hoản 3 Điều 228 của Bộ lu t tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định của pháp lu t.

[4]. Về điều luật áp dụng: Chị T và anh C C sống với nhau từ năm 2016 nhưng đến ngày 07/6/2018 mới đi đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã X, huy n Đ, tỉnh B, Tòa án sẽ áp dụng các quy định của Lu t Hôn nhân và gia đình năm 2014 đ giải quyết.

[5]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lò Thị T và anh Lò Văn C C sống với nhau theo phong tục từ năm 2016 nhưng đến ngày 07/6/2018 mới đi đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã X, huy n Đ, tỉnh B. Vi c kết hôn trên tinh thần tự nguy n các bên kết hôn khi đã đủ điều ki n kết hôn. Do v y, quan h hôn nhân giữa chị T, anh C là hợp pháp. Quá trình C sống chị T và anh C không còn hạnh phúc, thư ng xuyên mâu thu n. Nguyên nhân mâu thu n giữa anh C và chị T do tình cảm không còn như trước, không tin tưởng nhau thư ng xuyên bất đồng quan đi m nên giữa vợ chồng xảy ra m u thu n kéo dài. Hai vợ chồng c ng được hai bên gia đình khuyên giải hàn gắn giữ hạnh phúc gia đình nhưng không thành. Nội dung này đã được ủy ban nhân dân xã Xa Dung, huy n Đi n Biên Đông xác nh n. Như v y, có đủ cơ sở kh ng định vi c chị T cho r ng hai vợ chồng không còn hạnh phúc, thư ng xuyên mâu thu n là đúng. Xét tình trạng thực tế giữa hai vợ chồng, Hội đồng xét xử thấy có đủ căn cứ xác định anh C đã vi phạm nghĩa vụ thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, c ng chia s , thực hi n các công vi c trong gia đình. Do đó, đã làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đ i sống C không th kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, cần căn cứ Khoản 1 Điều 56 Lu t Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nh n yêu cầu của chị T, giải quyết cho chị T ly hôn với anh C.

[6]. Về con C, con riêng: Chị T và anh C có hai con C là cháu Lò Anh Q, sinh ngày 22/01/2016 và cháu Lò Đức H, sinh ngày 07/12/2017. Chị T có nguy n vọng được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Q và cháu H vì các cháu hi n còn nhỏ tu i; Hi n chị T đang đi làm thuê, có thu nh p đủ đ chăm sóc nuôi dưỡng cả hai cháu, vi c cấp dưỡng chị T không yêu cầu giải quyết. Đ đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của các cháu và đảm bảo sự phát tri n về mọi mặt của tr . Hội đồng xét xử thấy yêu cầu và nguy n vọng của chị T là chính đáng, ph hợp với quy định của pháp lu t, nên căn cứ các quy định tại Điều 58, Điều 81, 82, 83 Lu t Hôn nhân và gia đình 2014 giao cháu Lò nh Q, Lò Quang H cho chị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Chị T không yêu cầu giải quyết vi c cấp dưỡng nuôi con C nên không đề c p xem xét. Anh C có quyền đi lại thăm nom, giáo dục con C không ai được cản trở.

Quyền nuôi con và cấp dưỡng nuôi con có th được thay đ i theo quy định tại Điều 84 của Lu t hôn nhân gia đình 2014 khi có yêu cầu.

[7]. Về tài sản: Tài sản riêng, tài sản C, nợ phải trả, nợ lấy về, di n tích ruộng nương: Chị Lò Thị T và anh Lò Văn C không đề nghị Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[8]. Án phí: Quá trình giải quyết vụ án chị Lò Thị T có đơn xin miễn nộp tiền tạm ứng án phí, án phí. Tại phiên tòa chị tiếp tục đề nghị HĐXX xem xét miễn tiền án phí DSTT cho chị, bởi vì, bản thân và gia đình chị là ngư i dân tộc Thái đang cư trú tại Bản C B, xã X nơi có điều ki n kinh tế - xã hội đặc bi t khó khăn. Vì v y, cần áp dụng Đi m đ Khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thư ng vụ Quốc hội xem xét miễn toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm cho chị Lò Thị T là ph hợp.

Vì á lẽ trên,

QU ẾT ĐỊN :

Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, Khoản 1 Điều 39, Khoản 3 Điều 228, Điều 271, 273 của Bộ lu t tố tụng Dân sự;

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 53, Khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, 82, 83 và Điều 84 Lu t Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ đi m đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/ 2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thư ng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và l phí Tòa án;

1. Tuyên xử: Chấp nh n yêu cầu khởi ki n của nguyên đơn. Nguyên đơn chị Lò Thị T được ly hôn với bị đơn anh Lò Văn C.

2. Về con C: Giao con C là cháu Lò nh Q sinh ngày 22/01/2016 và cháu Lò Quang H sinh ngày 07/12/2017 cho chị Lò Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi các cháu thành niên và có khả năng lao động. Chị Lò Thị T không yêu cầu giải quyết về cấp dưỡng nuôi con C.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con mà không ai được cản trở và có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống C với ngư i trực tiếp nuôi con.

Cha, mẹ trực tiếp nuôi con c ng các thành viên trong gia đình không được cản trở ngư i không trực tiếp nuôi con thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục con C.

Quyền nuôi con và cấp dưỡng nuôi con có th được thay đ i theo quy định tại Điều 84 của Lu t hôn nhân gia đình 2014 khi có yêu cầu.

3. Về tài sản: Tài sản riêng, tài sản C, nợ phải trả, nợ lấy về, di n tích ruộng nương. Chị Lò Thị T và anh Lò Văn C không đề nghị Tòa án giải quyết.

4. Về án phí: Chị Lò Thị T được miễn án phí DSST.

5. Về quyền kháng cáo: Chị Lò Thị T biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày k từ ngày tuyên án (ngày 08/6/2022). Bị đơn anh Lò Văn C vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày k từ ngày nh n được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai./.

T.M ỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ T ẨM

Cỡ chữ