vanban.org

Bản án 03/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện về việc xin ly hôn của chị Phùng Thị T.

Về quan hệ hôn nhân: chị Phùng Thị T được ly hôn với anh Phùng Văn N. Về con chung: Giao cháu Phùng Ngọc Bảo T, sinh ngày 05/3/2018 cho chị Phùng Thị T chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi cháu T đủ 18 tuổi trưởng thành. Anh Phùng Văn N được quyền thăm nom, chăm sóc con chung sau ly hôn, chị T không đượ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Xin ly hôn Thu - Nam"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện về việc xin ly hôn của chị Phùng Thị T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẮK MIL
TỈNH ĐẮK NÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2022/HNGĐ-ST
Ngày 17/01/2022
Về việc: “Xin ly hôn”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK MIL

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Thế Thắng

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phan Sỹ Phác

2. Bà Hoàng Thị Thanh

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Kim Tuấn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông tham gia phiên toà: ông Phạm Văn Cường – Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 180/2021/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 10 năm 2021 về việc Xin ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2021/QĐXX-ST ngày 10 tháng 12 năm 2021 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Phùng Thị T – vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.

Địa chỉ:: Thôn 01, xã R, huyện M, tỉnh N.

- Bị đơn: Anh Phùng Văn N – vắng mặt

Địa chỉ:: Thôn 01, xã R, huyện M, tỉnh N.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo nội dung đơn khởi kiện ngày 01/10/2021, lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn Chị Phùng Thị T trình bày: Vào năm 2017 chị T, anh N đăng ký kết hôn tại ủy ban nhân dân xã R, huyện M, tỉnh N. Hôn nhân tự nguyện, không ai ép buộc. Sau khi kết hôn anh, chị chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng về quan điểm, cách sống, hay cãi nhau vì những việc nhỏ nhặt trong gia đình, anh N không chăm lo cuộc sống gia đình, không khí trong gia đình ngày càng trầm trọng. Anh, chị ly thân với nhau từ năm 2020 cho đến nay. Nay chị làm đơn khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Phùng Văn N.

Về con chung: Chị và anh N có 01 con chung là cháu Phùng Ngọc Bảo T, sinh ngày 05/3/2018. Khi ly hôn chị xin được nuôi dưỡng con chung cho đến khi cháu T đủ 18 tuổi trưởng thành và không yêu cầu cấp dưỡng.

Về tài sản chung và nợ: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết; công nợ chung không có.

- Kết quả thu thập chứng cứ: Tại biên bản xác minh ngày 14/10/2021 của Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil: Về nguyên nhân mâu thuẫn giữa chị T với anh N thì chính quyền địa phương không biết vì khi xảy ra mâu thuẫn anh, chị không thông báo với chính quyền địa phương để hòa giải.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil tham gia phiên toà phát biểu quan điểm về việc tuân thủ theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và nguyên đơn chị Phùng Thị T đều chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Bị đơn anh Phùng Văn N đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt, nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với nguyên đơn, bị đơn.

- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Phùng Thị T. Chị Phùng Thị T được ly hôn với anh Phùng Văn N.

- Về con chung: Giao cháu Phùng Ngọc Bảo T, sinh ngày 05/3/2018 cho chị Phùng Thị T chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi cháu T đủ 18 tuổi trưởng thành.

- Về tài sản và công nợ: Không có.

- Về án phí: Chị Phùng Thị T phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, và sau khi nghe đương sự trình bày tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ tranh chấp: Chị Phùng Thị T yêu cầu xin ly hôn với anh Phùng Văn N, đây là tranh chấp về hôn nhân gia đình (Xin ly hôn) thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn anh Phùng Văn N có đăng ký hộ khẩu tại thôn 01, xã R, huyện M, tỉnh N. Nên Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil thụ lý giải quyết là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bị đơn anh Phùng Văn N, trong quá trình giải quyết vụ án anh Phùng Văn N vắng mặt nên Tòa án đã tiến hành mở phiên họp về kiểm tra, giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ nhưng không tiến hành hòa giải được; Ngày 10/12/2021, Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil đã thông báo cho anh Phùng Văn N biết toàn bộ nội dung kết quả mở phiên họp giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ là đúng theo quy định tại khoản 3 Điều 210 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Sau khi Tòa án đưa vụ án ra xét xử, mặc dù đã hai lần được Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil triệu tập tham gia phiên tòa nhưng anh Phùng Văn N vắng mặt không có lý do chính đáng gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án. Mặt khác sự vắng mặt của anh Phùng Văn N đã không cung cấp được cho Tòa án chứng cứ chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình và phản bác lại đối với yêu cầu của nguyên đơn.

Vì vậy, theo quy định tại khoản 4 Điều 91 và điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, anh Phùng Văn N phải chịu hậu quả của việc không đưa ra được chứng cứ chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình và Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil tiến hành mở phiên tòa để xét xử vụ án vắng mặt bị đơn anh Phùng Văn N là phù hợp.

Chị Phùng Thị T có đơn xin xét xử vắng mặt, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn chị Phùng Thị T.

3.1 Về hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Phùng Thị T và anh Phùng Văn N là hợp pháp. Trong quá trình chung sống hai bên xảy ra nhiều mâu thuẫn dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn, không còn khả năng đoàn tụ; giữa anh, chị không còn quan tâm, yêu thương, chăm sóc với nhau nữa. Trong quá trình giải quyết vụ án, chị T thừa nhận chị không còn tình cảm với anh N, không muốn tiếp tục chung sống với nhau nữa và muốn được ly hôn để ổn định cuộc sống, hôn nhân vợ chồng không đạt được mục đích. HĐXX xét thấy, mâu thuẫn phát sinh từ lâu nhưng cả hai không tìm ra được giải pháp khắc phục. Anh, chị đã không còn tin tưởng, quan tâm chăm sóc lẫn nhau, cuộc sống chung không còn hạnh phúc, không có khả năng hàn gắn đoàn tụ, hôn nhân của anh chị thật sự không đạt được mục đích. Do vậy, Hội đồng xét xử nghĩ cần căn cứ vào Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận đơn xin ly hôn của chị T và giải quyết chị T được ly hôn với anh Phùng Văn N.

Về con chung: Theo quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 “Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì thì Tòa án quyết định giao con cho một bên căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”.

Hiện nay cháu Phùng Ngọc Bảo T, sinh ngày 05/3/2018 đang còn nhỏ nên cần sự chăm sóc của mẹ, chị T kinh doanh, buôn bán có thu nhập ổn định hằng tháng khoảng 10.000.000 đồng - 12.000.000đồng nên đủ chi phí để chăm sóc con chung. Từ những nhận định trên, HĐXX nghĩ, cần giao cháu Phùng Ngọc Bảo T, sinh ngày 05/3/2018 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc là phù hợp.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị T không yêu cầu anh N phải cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra để giải quyết.

Về tài sản chung và nợ: Chị T không yêu cầu Toà án giải quyết nên không đặt ra để giải quyết. Trong thời gian chung sống, anh, chị không vay mượn của ai hay cho ai vay mượn tài sản gì nên không đặt ra để giải quyết.

Về án phí: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự, Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án thì chị Phùng Thị T phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 điều 28, khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; Điều 227; Khoản 4 điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Áp dụng điều 51, 56, 81, 82, 84 của Luật hôn nhân gia đình năm 2014.

Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện về việc xin ly hôn của chị Phùng Thị T.

1. Về quan hệ hôn nhân: chị Phùng Thị T được ly hôn với anh Phùng Văn N.

2. Về con chung: Giao cháu Phùng Ngọc Bảo T, sinh ngày 05/3/2018 cho chị Phùng Thị T chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi cháu T đủ 18 tuổi trưởng thành. Anh Phùng Văn N được quyền thăm nom, chăm sóc con chung sau ly hôn, chị T không được cản trở hoặc gây trở ngại đến việc thăm nom, giáo dục con chung.

Việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn; Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau ly hôn; Nghĩa vụ, quyền của cha mẹ trực tiếp nuôi con đối với người không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn được thực hiện theo quy định tại các Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình.

3. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về tài sản chung và nợ: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.

5. Về án phí: Chị Phùng Thị T phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị T đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0000502 ngày 01/10/2021 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện M, tỉnh N.

6. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tròn kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ