- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Đặng Thị Thu D yêu cầu được ly hôn với Anh Trần Văn T."
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Đặng Thị Thu D được ly hôn với Anh Trần Văn T.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH SƠN TỈNH QUẢNG NGÃI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 03/2022/HNGĐ – ST Ngày 05/01/2022 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH SƠN, TỈNH QUẢNG NGÃI
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Quang Toại;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Tấn Ba và ông Nguyễn Văn Thạch.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Duy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi.
- Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Ông Phạm Thanh Tứ.
Trong ngày 05 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 237/2021/TLST – HNGĐ, ngày 28 tháng 5 năm 2021 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 193/2021/QĐXXST – HNGĐ, ngày 29 tháng 11 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 82/2021/QĐST-HNGĐ ngày 16 tháng 12 năm 2021, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Đặng Thị Thu D, sinh năm 1980, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Nơi cư trú: thôn T, xã B, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi.
Chỗ ở hiện nay: Đội X, thôn N, xã B, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi.
Bị đơn: Anh Trần Văn T, sinh năm 1982, vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm lần 2 không có lý do;
Nơi cư trú: thôn T, xã B, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Theo đơn khởi kiện ngày 20/3/2021 và trong quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn Chị Đặng Thị Thu D trình bày và yêu cầu như sau:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Đặng Thị Thu D và Anh Trần Văn T có tự nguyện tìm hiểu trước khi kết hôn, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại UBND xã B, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi vào ngày 27/3/2006.
Sau khi kết hôn, chị D phát hiện anh Tcó nhiều tật xấu, nhiều lần đánh đập chị, có lần đánh gây thương tích phải vào viện điều trị, anh T không tôn trọng, quan tâm chăm sóc chị, không có trách nhiệm với vợ, con. Trong thời gian gần đây chị D phát hiện anh T có quan hệ bất chính với người phụ nữ khác, chị can ngăn, khuyên nhủ nhưng anh T không thay đổi, mỗi khi về nhà phần ai nấy sống, thường xuyên xung đột không nói chuyện với nhau, chị và anh T đã sống ly thân từ tháng 8/2020 đến nay. Nay chị D xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với Anh Trần Văn T.
Về con chung: Chị Đặng Thị Thu D xác định, chị và Anh Trần Văn T có 02 con chung gồm: Trần Sa Ly K, sinh ngày 21/3/2011 và Trần Thị Kiều O, sinh ngày 16/3/2008. Khi ly hôn, chị D yêu cầu trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Trần Sa Ly K và giao cho anh T trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Trần Thị Kiều O. chị D không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Chị Đặng Thị Thu D xác định không có tài sản chung.
Về nghĩa vụ tài sản: Chị Đặng Thị Thu D xác định không có nghĩa vụ chung về tài sản.
Ý kiến của bị đơn: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng như: Thông báo về việc thụ lý vụ án, Giấy triệu tập làm việc, Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải… nhưng Anh Trần Văn T vắng mặt không có lý do, không gửi văn bản ý kiến phản hồi đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và không giao nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án để xem xét giải quyết.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa:
Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa kể từ khi thụ lý vụ án cho đến khi trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 28, 68, 195, 196, 207, 208, 209, 210, 211, 220 của Bộ Luật tố tụng dân sự.
Đối với người tham gia tố tụng: Nguyên đơn Chị Đặng Thị Thu D đã thực hiện đúng theo quy định tại Điều 70, 71 của Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn Anh Trần Văn T không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của đương sự theo quy định tại 70, 72 của Bộ Luật tố tụng dân sự và vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm lần thứ hai không có lý do nên đề nghị tiến hành giải quyết vắng mặt anh T.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 51, khoản 1 Điều 56, 57, 81, 82, 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Các Điều 28, 35, 39, 147, 189, 203, 220, 227 và Điều 228 của Bộ Luật tố tụng dân sự; Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử:
Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của Chị Đặng Thị Thu D được ly hôn Anh Trần Văn T.
Về con chung: Giao cháu Trần Sa Ly K, sinh ngày 21/3/2011 cho Chị Đặng Thị Thu D trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục khi ly hôn và giao cháu Trần Thị Kiều O, sinh ngày 16/3/2008 cho Anh Trần Văn T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục khi ly hôn. chị D không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét giải quyết. anh Tkhông có ý kiến về yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung và nghĩa vụ về tài sản: Không có, không đặt ra giải quyết.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Đặng Thị Thu D phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm không có giá ngạch theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Nguyên đơn Chị Đặng Thị Thu D có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn Anh Trần Văn T đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa không vì sự kiện bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan, Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ Luật tố tụng dân sự vẫn tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
Đối với bị đơn Anh Trần Văn T, trong quá trình Tòa án tiến hành tố tụng đã tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án số: 220/TB –TLVA ngày 28/5/2021, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải số: 137/TB-TA ngày 02/6/2021; số: 218/TB – TA, ngày 01/10/2021 để Anh Trần Văn T thực hiện quyền, nghĩa vụ theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự, nhưng anh không có văn bản phản hồi ý kiến, không tham gia phiên họp, không chấp hành đúng quyền, nghĩa vụ của bị đơn. Theo quy định tại khoản 4 Điều 91 của Bộ Luật tố tụng dân sự thì “Đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra hoặc không đưa ra đầy đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ án dân sự theo những chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án”, Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ thu thập được trong hồ sơ vụ án để xem xét yêu cầu khởi kiện của Chị Đặng Thị Thu D theo quy định của pháp luật.
Xét các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Về quan hệ hôn nhân: Trên cơ sở lời trình bày của nguyên đơn và Biên bản xác minh ngày 19/11/2021 tại UBND xã Bình Mỹ về quan hệ hôn nhân giữa Chị Đặng Thị Thu D và Anh Trần Văn T, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Chị Đặng Thị Thu D và Anh Trần Văn T có quan hệ hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, chị D và anh T chung sống được một thời gian thì ly thân mỗi người mỗi nơi; chị D sinh sống tại xã B, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi, còn anh T sinh sống tại xã B, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi. Trước khi chị D khởi kiện đến Tòa án thì vợ chồng anh, chị đã không còn sống chung với nhau từ tháng 8/2020 đến nay. Việc anh, chị không sống chung với nhau trong thời gian dài thể hiện tình nghĩa vợ chồng anh, chị không còn và không có nghĩa vụ vợ chồng với nhau. Theo Điều 19 của Luật Hôn nhân và Gia đình: “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau cùng nhau chia sẻ và có nghĩa vụ chung sống với nhau...”, tuy nhiên, chị D và anh T không còn quan tâm, chia sẻ, chăm sóc và không còn sống chung với nhau; điều này thể hiện tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên hai bên tự sống ly thân.
Trong quá trình giải quyết, Tòa án đã thông báo cho anh T đến tham gia phiên họp hòa giải nhưng anh Tkhông đến tham gia phiên hòa giải và cũng không tham gia phiên tòa. Điều này chứng tỏ anh T không có thiện chí hòa giải đoàn tụ và không mong muốn đoàn tụ sống chung với chị D. chị D có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải và không mong muốn đoàn tụ. Cả hai bên đều không muốn đoàn tụ sống chung với nhau. Ngoài ra, trong thời gian sống chung anh T còn có hành vi đánh đập chị D nên đã vi phạm các điều cấm theo quy định tại Điều 5 của Luật Hôn nhân và Gia đình về bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình. Như vậy, tình trạng hôn nhân giữa chị D và anh T đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử đủ cơ sở chấp nhận yêu cầu của Chị Đặng Thị Thu D về việc xin ly hôn với Anh Trần Văn T và phù hợp với tình trạng hôn nhân của anh, chị theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Về nuôi con chung: Chị Đặng Thị Thu D và Anh Trần Văn T có 02 con chung gồm: Trần Sa Ly K, sinh ngày 21/3/2011 và Trần Thị Kiều O, sinh ngày 16/3/2008. Khi ly hôn, chị Dyêu cầu được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Trần Sa Ly K và yêu cầu giao cháu Trần Thị Kiều O cho Anh Trần Văn T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.
Xét yêu cầu của chị D là phù hợp với nguyện vọng của cháu K và cháu O tại Bản tự khai của các cháu vào ngày 12/11/2021. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị D, giao cháu K cho chị D trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục và giao cháu O cho anh T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục khi ly hôn nhằm đảm bảo điều kiện phát triển toàn diện về mọi mặt của cháu K và cháu O.
chị D không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét giải quyết. anh T không có ý kiến về yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét giải quyết.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con được quyền thăm nom con chung không ai được quyền cản trở, nhưng không được lạm dụng quyền thăm nom con chung. Trong trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Việc trông nom chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn được áp dụng theo quy định tại các Điều 81, Điều 82, Điều 83 và 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và các quy định khác của pháp luật liên quan.
Về tài sản chung: Chị Đặng Thị Thu D xác định không có, không xem xét giải quyết.
Về nghĩa vụ tài sản chung: Chị Đặng Thị Thu D xác định không có nghĩa vụ tài sản chung, không xem xét giải quyết.
Về án phí: Áp dụng Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
Buộc Chị Đặng Thị Thu D phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm không có giá ngạch (ly hôn) là 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ xong số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Sơn: Đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1. Áp dụng:
Khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1, 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, khoản 1 Điều 235, Điều 266, Điều 267, khoản 1 Điều 273 và Điều 280 của Bộ Luật tố tụng dân sự;
Các Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Đặng Thị Thu D được ly hôn với Anh Trần Văn T.
2. Về con chung:
Giao cháu Trần Sa Ly K, sinh ngày 21/3/2011 cho Chị Đặng Thị Thu D trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục khi ly hôn.
Giao cháu Trần Thị Kiều O, sinh ngày 16/3/2008 cho Anh Trần Văn T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục khi ly hôn.
Chị Đặng Thị Thu D không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không giải quyết.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con được quyền thăm nom con chung không ai được quyền cản trở, nhưng không được lạm dụng quyền thăm nom con chung. Trong trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Việc trông nom chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn được áp dụng theo quy định tại các Điều 81, Điều 82, Điều 83 và 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và các quy định khác của pháp luật liên quan.
3. Về tài sản chung: Chị Đặng Thị Thu D xác định không có, không xem xét giải quyết.
4. Về nghĩa vụ tài sản chung: Chị Đặng Thị Thu D xác định không có, không xem xét giải quyết.
5. Về án phí: Chị Đặng Thị Thu D có nghĩa vụ chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm không có giá ngạch (ly hôn) là: 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ xong tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số AA/2018/0003749, ngày 28/5/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi.
6. Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
7. Chị Đặng Thị Thu D và Anh Trần Văn T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Ngãi; - VKSND huyện Bình Sơn; - Chi cục THADS huyện Bình Sơn; - UBND xã B, - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lê Quang Toại |