vanban.org

Bản án 03/2022/HNGĐ-ST — Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

TAND tỉnh Quảng Ninh Tuyên án 11/01/2022 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu thay đổi người nuôi con chung sau ly hôn của chị Lê Thị B.

Giao con chung Cao Lê Ngọc L, sinh ngày 08/11/2005 và Cao Lê Đức A, sinh ngày 13/12/2008 cho chị Lê Thị B trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi con chung thành niên (đủ 18 tuổi); Anh Cao Thái H không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền qua lại chăm sóc con chung không ai được ngăn c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "Nguyên đơn: Lê Thị Bích; bị đơn: Cao Thái Hòa"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu thay đổi người nuôi con chung sau ly hôn của chị Lê Thị B.
  • Căn cứ chính? Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 11-01-2022
“V/v: Thay đổi người nuôi con
chung sau ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Ngô Văn Thắng Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Thu Hoài

Ông Trần Văn Sinh

- Thư ký phiên toà: Bà Hà Thanh Hương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hà - Kiểm sát viên

Ngày 11 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 35/2021/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 11 năm 2021 về việc “Thay đổi người nuôi con chung sau ly hôn”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 36/2021/QĐ-ST ngày 20 tháng 12 năm 2021, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Lê Thị B; sinh năm 1986; HKTT: Thôn 7, xã M, huyện Thủy Ng, thành phố Hải Phòng; chỗ ở: Irmavej 30, 3 tv Rødovre, Đ; vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

2. Bị đơn: Anh Cao Thái H; sinh năm 1976; địa chỉ: Tổ 18A, khu 9, phường B, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Ngày 15/05/2012, chị Lê Thị B và anh Cao Thái H thuận tình ly hôn (theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 47/2012/QĐST-HNGĐ ngày 15/05/2012 của Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí).

Con chung thỏa thuận: Anh Cao Thái H nuôi hai con chung Cao Lê Ngọc L, sinh ngày 08/11/2005 và Cao Lê Đức A , sinh ngày 13/12/2008.

Sau ly hôn anh H đã xây dựng gia đình mới và có tiếp hai con chung. Hai con chung của chị Lê Thị B và anh Cao Thái H do mẹ chị B nuôi dưỡng. Nay chị Lê Thị B khởi kiện yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, chị nhận nuôi hai con chung và không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con chung.

Anh H có quan điểm nhất trí yêu cầu khởi kiện của chị B.

Hai con chung của chị B và anh H đều có nguyện vọng ở với mẹ là Lê Thị B.

Chị Lê Thị B và anh Cao Thái H từ chối tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải và đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa, Hội đồng xét xử và Thư ký Toà án đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, các đương sự thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Về nội dung: Đại diện VKS đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của chị Lê Thị B, giao con chung Cao Lê Ngọc L, sinh ngày 08/11/2005 và Cao Lê Đức A, sinh ngày 13/12/2008 cho chị Lê Thị B trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi con chung thành niên (đủ 18 tuổi); anh Cao Thái H không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và tại phiên toà Hội đồng xét xử thấy:

Về tố tụng, quan hệ pháp luật: Nguyên đơn chị Lê Thị B hiện sinh sống tại Đ khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết thay đổi người nuôi dưỡng con chung sau ly hôn với bị đơn anh Cao Thái H sinh sống tại thành phố U, tỉnh Quảng Ninh, Việt Nam. Đây là quan hệ pháp luật: Tranh chấp thay đổi người trực tiếp nuôi con chung sau ly hôn và thẩm quyền thuộc Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh theo quy định tại khoản 3 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37 Bộ Luật Tố tụng Dân sự.

Anh, chị Cao Thái H - Lê Thị B có đơn từ chối phiên họp kiểm tra chứng cứ, hòa giải và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 2 Điều 207, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, điểm a khoản 5 Điều 477 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh, chị Cao Thái H - Lê Thị B.

Xét yêu cầu khởi kiện thấy: Ngày 15/05/2012, chị B và anh H thuận tình ly hôn (Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 47/2012/QĐST-HNGĐ ngày 15/05/2012 của Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí).

Về con chung chị B và anh Hòa thỏa thuận: Anh H nuôi hai con chung Cao Lê Ngọc L, sinh ngày 08/11/2005 và Cao Lê Đức A, sinh ngày 13/12/2008.

Sau ly hôn anh H đã xây dựng gia đình mới và có tiếp hai con chung. Hai con chung của chị B và anh H do mẹ chị B nuôi dưỡng. Như vậy, anh H không đáp ứng được điều kiện nuôi dưỡng và không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục hai con chung, theo quy định tại Điều 83, điểm b khoản 2 Điều 84 Luật Hôn nhân Gia đình. Nguyện vọng của hai cháu Cao Lê Ngọc L, Cao Lê Đức A mong muốn được ở với mẹ.

Vì vậy, yêu cầu khởi kiện thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn của chị B có căn cứ chấp nhận.

Về án phí: Yêu cầu của chị B được chấp nhận, nên bị đơn anh H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

Quyền kháng cáo, kháng nghị: Các đương sự được quyền kháng cáo, Viện kiểm sát cùng cấp được quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, khoản 2 Điều 123 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; khoản 3 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, khoản Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 273, điểm a khoản 5 Điều 477 , khoản 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu thay đổi người nuôi con chung sau ly hôn của chị Lê Thị B.

Giao con chung Cao Lê Ngọc L, sinh ngày 08/11/2005 và Cao Lê Đức A, sinh ngày 13/12/2008 cho chị Lê Thị B trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi con chung thành niên (đủ 18 tuổi);

Anh Cao Thái H không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền qua lại chăm sóc con chung không ai được ngăn cấm.

Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc chăm sóc, thăm nom, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Về án phí: Anh Cao Thái H có nghĩa vụ nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí chị B (anh Cao Thái H nộp thay) đã nộp theo biên lai số 0015758 ngày 18/11/2021 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ninh.

Chị Lê Thị B có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án, quyết định được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án, quyết định được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật. Anh Cao Thái H có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Cỡ chữ