- Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "Mùi Thị K và Lê Xuân T - Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là chị Mùi Thị K về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn .
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 03/2022/HNGĐ-ST Ngày 12-01-2022 V/v Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Quàng Văn Thủy;
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Mùa Thị Máy và bà Hoàng Thị Ngân.
- Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Viên Thư ký Toà án nhân dân huyện B, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Sơn La tham gia phiên toà : Ông Nguyễn Thế Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện B, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 09/2021/TLST- HNGĐ, ngày 22 tháng 11 năm 2021 về Tranh chấp thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 12 năm 2021 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Mùi Thị K; Nơi cư trú: T 2, thị trấn B, huyện B, tỉnh Sơn La; có mặt.
- Bị đơn: Anh Lê Xuân T; Nơi cư trú: T 1, thị trấn B, huyện B, tỉnh Sơn La, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 16/11/2021, bản tự khai và tại phiên tòa, nguyên đơn là chị Mùi Thị K trình bày: Chị và anh Lê Xuân T đã ly hôn năm 2017 và có Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 16/2017/QĐST-HNGĐ ngày 06/9/2017 của Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Sơn La, theo quyết định công nhận thuận tình ly hôn, về con chung chị K có trách nhiệm nuôi cháu Lê Lam T, sinh ngày 11/10/2012, anh Lê Xuân T trực tiếp nuôi cháu Lê Xuân K, sinh ngày 28/01/2008. Trong thời gian sống cùng bố là anh Lê Xuân T, cháu K học tập bình thường, chưa có biểu hiện chểnh mảng. Nhưng đến năm 2020 do hoàn cảnh công việc của anh Lê Xuân T bận, không có thời gian quan tâm cháu dẫn đến cháu học hành sa sút, chơi bời lêu lổng, cãi lời người lớn, đi chơi điện tử. Từ tháng 9/2021 chị K đón cháu sang ở với cùng thì học tập của cháu tiến bộ hơn, bản thân chị K là giáo viên trực tiếp dạy tại trường của cháu K nên có điều kiện quan tâm, chăm sóc, lắng nghe, bảo ban cháu và chị K đảm bảo đủ điều kiện để nuôi các cháu ăn học, sinh hoạt hàng ngày. Vì vậy, chị Mùi Thị K yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, chị K sẽ là người trục tiếp nuôi cháu Lê Xuân K. Không yêu cầu anh Lê Xuân T cấp dưỡng nuôi con chung.
Tại bản tự khai và tại phiên tòa anh Lê Xuân T trình bày: Anh và chị Mùi Thị K ly hôn ngày 06/9/2017 do mâu thuẫn, không hợp nhau. Sau khi ly hôn anh T được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Lê Xuân K, sinh ngày 28/01/2008, còn chị Mùi Thị K trực tiếp nuôi cháu Lê Lam T, sinh ngày 11/10/2012. Trong quá trình sống với anh T, anh T nhận thấy cháu sinh hoạt, học tập bình thường không có vấn đề gì, đến tháng 9/2021 anh T có nhất trí cho cháu sang ở với mẹ cháu là Mùi Thị K. Anh Lê Xuân T không ngăn cản việc thăm nom, chăm sóc, quan tâm con chung nhưng anh T yêu cầu chị K luôn giữ đúng thỏa thuận của Quyết định công nhận thuận tình ly hôn ngày 06/9/2017. Anh T chỉ nhất trí để cháu Lê Xuân K sang ở với chị Mùi Thị K nhưng không nhất trí với yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con theo yêu cầu của chị Mùi Thị K.
Tại biên bản ghi lời khai ngày 08/12/2021, cháu Lê Xuân K trình bày ý kiến: Sau khi bố mẹ ly hôn, cháu về ở với bố và bà nội tại T 1, thị trấn B, tuy nhiên từ tháng 09/2021 thì cháu sang ở với mẹ tại T 2, thị trấn B do ở với bố Lê Xuân T cháu cảm thấy rất áp lực, bố thường xuyên bận việc, ít có thời gian quan tâm, chăm sóc cháu và bà nội thì già yếu nên việc học tập, dạy dỗ cháu không được đảm bảo. Cháu ở với mẹ đủ điều kiện để nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu tốt hơn.
Tại biên bản xác minh ngày 17/12/2021, Giáo viên chủ nhiệm của cháu Lê Xuân K là cô Nguyễn Thị Thanh H cho biết: Trong quá trình chủ nhiệm và trực tiếp dạy cháu Lê Xuân K từ lớp 6 đến lớp 8 thì ở lớp 6 cháu K học tập bình thường đạt học sinh tiên tiến, đến năm lớp 7 cháu học tập ngày càng sa sút, có hiện tượng chơi điện tử, học lực trung bình, thường xuyên vi phạm nội quy của lớp, không làm bài tập, cô giáo chủ nhiệm có trao đổi với phụ huynh cháu K là anh Lê Xuân T về việc học tập của cháu, nhưng cháu K vẫn không tiến bộ. Từ lớp 8 cháu K sang ở với mẹ thì việc học tập của cháu tiến bộ hơn rất nhiều, chấm dứt được tình trạng chơi điện tử, chấp hành tốt nội quy trường, lớp, học bài và làm bài đầy đủ trước khi đến lớp, học tập có nề nếp, ăn mặc gọn gàng hơn.
Tại phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ ngày 23/12/2021 các đương sự thống nhất về yêu cầu, phạm vi khởi kiện, không có yêu cầu phản tố, không ai cung cấp tài liệu chứng cứ, yêu cầu gì khác. Tại phiên hòa giải, các đương sự không thống nhất được với nhau về yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn
Tại phiên Tòa: Nguyên đơn chị Mùi Thị K trình bày ý kiến tranh luận vẫn giữ nguyên yêu cầu xin thay đổi người trực tiếp nuôi con cháu Lê Xuân K. Bị đơn anh Lê Xuân T không nhất trí với yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con của chị Mùi Thị K.
Đại diện Viện kiểm sát ý kiến: Thẩm phán đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại khoản 3 Điều 28, Điều 48, và các Điều 170, 171, 172, 195, 196, 197, 198, 203 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về xét xử sơ thẩm vụ án. Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật. Về quan điểm giải quyết vụ án: Quá trình xác minh nhận thấy anh Lê Xuân T hiện đang công tác tại Văn phòng HĐND,UBND huyện B, cháu K hiện đang sống cùng mẹ ở T 2, thị trấn B có đủ điều kiện để chăm sóc và nuôi dưỡng tốt hơn. Cháu K có ý kiến không muốn ở cùng bố do áp lực, bố thường xuyên bận việc, ít quan tâm, chăm sóc được cháu, cháu có nguyện vọng được ở cùng mẹ để đảm bảo việc học tập, sinh hoạt tốt hơn. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 81, 82, 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Giao cháu Lê Xuân K cho chị Mùi Thị K trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, anh Lê Xuân T không phải cấp dưỡng nuôi con chung; buộc anh Lê Xuân T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Theo đơn khởi kiện và yêu cầu tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án “Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn” do nguyên đơn chị Mùi Thị K khởi kiện đối với bị đơn anh Lê Xuân T có nơi cư trú: T 1, thị trấn B, huyện B, tỉnh Sơn La. Căn cứ theo quy định tại khoản 3 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Sơn La.
Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Chị Mùi Thị K và anh Lê Xuân T đã ly hôn năm 2017 và có Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 16/2017/QĐST-HNGĐ ngày 06/9/2017, theo quyết định công nhận thuận tình ly hôn, về con chung chị K có trách nhiệm nuôi cháu Lê Lam T, sinh ngày 11/10/2012, anh Lê Xuân T trực tiếp nuôi cháu Lê Xuân K, sinh ngày 28/01/2008. Trong quá trình nuôi dưỡng cháu Lê Xuân K, anh Lê Xuân T thường xuyên bận công việc, ít có thời gian quan tâm, chăm sóc, dạy dỗ cháu Lê Xuân K. Đặc biệt lứa tuổi của cháu K đang cần sự quan tâm, chăm sóc, lắng nghe, dạy dỗ của bố mẹ. Chị Mùi Thị K bản thân là giáo viên trực tiếp dạy tại trường của cháu K đang học, nên có điều kiện quan tâm, chăm sóc, lắng nghe, bảo ban cháu và chị K đảm bảo đủ điều kiện để nuôi các cháu ăn học, sinh hoạt hàng ngày. Trong quá trình giải quyết, Tòa án đã tham khảo ý kiến của giáo viên chủ nhiệm cũng như Ban giám hiệu nhà trường trong việc nên giao cháu Lê Xuân K cho ai trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Giáo viên chủ nhiệm cũng như Ban giám hiệu nhà trường có ý kiến nên giao cháu Lê Xuân K cho mẹ là chị Mùi Thị K trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục sẽ thuận lợi và tốt hơn. Cháu Lê Xuân K cũng có nguyện vọng được ở với mẹ, vì ở với bố cháu cảm thấy áp lực, bố ít quan tâm và lắng nghe cháu.
Vì vậy, căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của cháu Lê Xuân K, đặc biệt là các điều kiện cho sự phát triển về thể chất, bảo đảm việc học hành và các điều kiện cho sự phát triển tốt về tinh thần, và nguyện vọng của cháu nên căn cứ khoản 3 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, cần chấp nhận yêu cầu của chị K, thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn giao cháu Lê Xuân K, sinh ngày 28/01/2008 cho chị K trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.
Tại phiên tòa, mặc dù đã được Tòa án giải thích về quyền yêu cầu cấp dưỡng nuôi con là nhằm đảm bảo quyền lợi của các con khi cha mẹ ly hôn, nhưng chị K cho rằng hiện nay có công việc và thu nhập ổn định nên không yêu cầu anh Thành phải cấp dưỡng nuôi con chung. Việc chị Khương không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con là tự nguyện, phù hợp với quy định của pháp luật, không trái với đạo đức xã hội nên cần chấp nhận.
Các vấn đề khác tiếp tục thực hiện theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 16/2017/QĐST-HNGĐ ngày 06/9/2017 của Tòa án nhân dân huyện Bắc Yên, tỉnh Sơn La.
Về án phí: Bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận theo quy định tại khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Hoàn trả lại cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 82; Điều 83 và khoản 3 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là chị Mùi Thị K về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn .
- Giao cháu Lê Xuân K, sinh ngày 28/01/2008 cho chị Mùi Thị K trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi cháu Lê Xuân K trưởng thành đủ 18 tuổi. Anh Lê Xuân T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
- Sau khi thay đổi người trực tiếp nuôi con, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Các vấn đề khác tiếp tục thực hiện theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 16/2017/QĐST-HNGĐ ngày 06/9/2017 của Tòa án nhân dân huyện Bắc Yên, tỉnh Sơn La.
2. Về án phí: Căn cứ khoản 2, Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
- Anh Lê Xuân T phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).
- Hoàn trả lại cho chị Mùi Thị K số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), theo biên lại thu số AA/2021/0001356 ngày 22/11/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện B, tỉnh Sơn La.
Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (12/01/2022).
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sơn La; - VKSND huyện B; - Chi cục THADS huyện B; - UBND thị trấn B; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Quàng Văn Thủy |