vanban.org

Bản án 03/2022/HN-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Huỳnh Hoàng Hương G đối với ông Nguyễn Chiêu A.

Về con chung: Giao Nguyễn Huỳnh Đại H (nam) sinh ngày 17/7/2011 cho bà G nuôi dưỡng. Ông Chiêu A không phải cấp dưỡng nuôi con. Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho ông Chiêu A, không ai được quyền ngăn cản. Về tài sản chung, nợ chung: chưa xem xét giải quyết.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Huỳnh Hoàng Hương G - Nguyễn Chiêu A"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Huỳnh Hoàng Hương G đối với ông Nguyễn Chiêu A.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN P
THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Bản án số: 03/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 18/01/2022

V/v Tranh chấp Ly hôn, nuôi con.

NHÂN DA

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Liêng Thị Hồng Hoa

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Ngô Lê Tuấn Kiệt

2. Ông Nguyễn Hùng Phước

- Thư ký phiên tòa: bà Đinh Thanh Thảo, là thư ký tòa án của Tòa án nhân dân huyện P, thành phố Cần Thơ

Ngày 18 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện P, thành phố Cần Thơ, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 125/2021/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 10 năm 2021 về việc tranh chấp Ly hôn, nuôi con; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 107/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 12 năm 2021, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: bà Huỳnh Hoàng Hương G, sinh năm 1987; nơi cư trú: X ấp T, thị trấn P, huyện P, thành phố Cần Thơ.

* Bị đơn: ông Nguyễn Chiêu A, sinh năm 1986; nơi cư trú: Y ấp Th, xã N, huyện P, thành phố Cần Thơ.

(Nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nguyên đơn – bà Huỳnh Hoàng Hương G trình bày: Bà và ông Nguyễn Chiêu A sau thời gian tự tìm hiểu thì tiến đến hôn nhân vào năm 2011, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện P, thành phố Cần Thơ. Vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông Chiêu A không lo làm ăn chăm sóc gia đình mà sa đà vào tệ nạn cờ bạc. Bà đã khuyên ngăn ông Chiêu A nhiều lần nhưng ông Chiêu A không thay đổi. Đến năm 2020, ông Chiêu A đánh bạc đã gây ra một số nợ lớn để bà phải trả một mình, đồng thời vợ chồng cũng sống ly thân từ năm 2020.

- 1 -

Hiện nay bà đã không còn tình cảm với ông Chiêu A nữa nên yêu cầu ly hôn. Bà và ông Chiêu A có 01 người con chung là Nguyễn Huỳnh Đại H (nam) sinh ngày 17/7/2011, bà yêu cầu nuôi con chung và không yêu cầu ông Chiêu A cấp dưỡng nuôi con. Ông bà không có tài sản chung và nợ chung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Bà Huỳnh Hoàng Hương G và ông Nguyễn Chiêu A xây dựng quan hệ hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện P, thành phố Cần Thơ và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 92/HT/Xã, quyển số 01/2011 ngày 19/5/2011 là hôn nhân hợp pháp. Ngày 17/02/2021 bà G yêu cầu ly hôn, bị đơn có nơi cư trú tại huyện P nên Tòa án nhân dân huyện P thụ lý giải quyết theo thẩm quyền.

[2] Bị đơn Nguyễn Chiêu A đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Tòa án đã triệu tập hợp lệ hai lần đến tham gia phiên tòa nhưng ông Chiêu A vẫn không đến theo triệu tập của Tòa án, cũng không gửi văn bản nêu ý kiến của ông đối với yêu cầu khởi kiện của bà G. Do đó Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông Chiêu A.

[3] Xét yêu cầu ly hôn của bà Huỳnh Hoàng Hương G: bà G xác nhận thời gian đầu vợ chồng bà chung sống hạnh phúc. Đến năm 2018 thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông Chiêu A không chăm lo làm ăn, sa đà vào tệ nạn cờ bạc gây ra khoản nợ lớn. Qua nhiều lần khuyên can nhưng ông Chiêu A không thay đổi, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng không thể hàn gắn, vợ chồng không thể tiếp tục chung sống nên bà G và ông Chiêu A đã sống ly thân từ năm 2020. Trong quá trình giải quyết vụ án, ông Chiêu A đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để tham dự các phiên hòa giải và tham dự phiên tòa nhưng ông Chiêu A vẫn vắng mặt không có lý do, chứng tỏ hai bên không có thiện chí hòa giải cho vợ chồng đoàn tụ. Cuộc sống hôn nhân của bà G và ông Chiêu A đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn nên việc chung sống cũng không còn ý nghĩa gì nữa. Do đó, bà G yêu cầu ly hôn với ông Chiêu A là có cơ sở.

[4] Về con chung: Bà G và ông Chiêu A có 01 con chung tên Nguyễn Huỳnh Đại H (nam) sinh ngày 17/7/2011, bà G yêu cầu nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu cấp dưỡng. Xét bà G đang trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu H đồng thời cháu H cũng có nguyện vọng sống cùng với mẹ. Do đó, để bảo

- 2 -

đảm quyền lợi về mọi mặt của con chung nên Hội đồng xét xử giao cháu H cho bà G trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Do bà G không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về tài sản chung, nợ chung: nguyên đơn trình bày không có nhưng chưa ghi nhận được ý kiến của bị đơn, do đó chưa xem xét giải quyết.

[6] Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 56, Điều 81, Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Huỳnh Hoàng Hương G đối với ông Nguyễn Chiêu A.

- Về con chung: Giao Nguyễn Huỳnh Đại H (nam) sinh ngày 17/7/2011 cho bà G nuôi dưỡng. Ông Chiêu A không phải cấp dưỡng nuôi con. Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho ông Chiêu A, không ai được quyền ngăn cản.

- Về tài sản chung, nợ chung: chưa xem xét giải quyết.

- Án phí hôn nhân sơ thẩm: bà G nộp 300.000 đồng, chuyển tiền tạm ứng án phí tại phiếu thu số 0007024 ngày 26/10/2021 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện P thành án phí.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- 3 -

Cỡ chữ