- Tranh chấp gì? Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản — án dân sự — "Đoàn NH NN"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – anh Vũ văn .
- Căn cứ chính? Điều 163 Bộ luật Dân sự; Điều 164 Bộ luật Dân sự; Điều 166 Bộ luật Dân sự
| Toµ ¸n nh©n d©n HUYỆN VB thµnh phè H¶i Phßng | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| B¶n ¸n sè: 03/2022/DS-ST |
Ngµy 21-01-2022 V/v tranh chấp kiện đòi quyền khác
về tài sản
nh©n danh
n íc céng hoµ x· héi chñ nghÜa viÖt nam
Toµ ¸n nh©n d©n HUYỆN VB THÀNH PHỐ H¶i phßng
- Thµnh phÇn Héi ®ång xÐt xö s¬ thÈm gåm cã:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Đức Vịnh
- Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Quyết
Bà Nguyễn Thị Tâm.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Ngọc Anh là Thư ký Tòa án nhân huyện VB, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện VB, thành phố Hải Phòng
tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Huy– Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện VB, thành phố Hải Phòng tiến hành xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số 39/2021/TLST-DS ngày 18-10-2021, về việc “Tranh chấp kiện đòi quyền khác về tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2021/QĐXXST-DS ngày 30-12-2021, giữa:
- Nguyên đơn: Anh Vũ Văn ; nơi cư trú: Thôn 2, NA, xã TC, huyện VB, thành phố Hải Phòng, vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Ngân hàng Nngh và phtrnth VN; địa chỉ: Số 02 Láng Hạ, phường Thành C, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội; người đại diện theo ủy quyền: Ông Ngô Văn C – Trưởng phòng kinh doanh chi nhánh NAĐHải Phòng (theo Giấy uỷ quyền ngày 22-12-2021), vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Bà Ngô Thị Đ1; địa chỉ: Thôn 2, NA, xã TC, huyện VB, thành phố Hải Phòng, vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt);
+ Bà Đặng Thị Ch; địa chỉ: Đội 10, ĐA (nay là thôn 10), xã TC, huyện VB, thành phố Hải Phòng, vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt);
+ Bà Lê Thị V; ĐKHKTT: Thôn 9, xã TC, huyện VB, thành phố Hải Phòng. Hiện đang chấp hành án tại Trại giam XNg, thành phố Hải Phòng, vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các lời khai tại Tòa án nhân dân huyện VB, nguyên anh Vũ Văn trình bày: Ngày 14-10-1999 vợ chồng anh được Ủy ban nhân dân huyện VB cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số M037053 đối với diện tích 710 m2 đất tại thửa đất số 25, 26 tờ bản đồ số 04; địa chỉ: Thôn NA, xã TC, huyện VB, thành phố Hải Phòng. Nguồn gốc diện tích đất này là do vợ chồng nhận chuyển quyền sử dụng đất từ bố mẹ anh là bà Nguyễn Thị Đ2 và ông Vũ Văn Kh. Năm 2010 vợ chồng ông có ký hợp đồng tín dụng với Ngân hàng Nngh và phtrnth VN – Chi nhánh NAĐHải Phòng để vay số tiền 30.000.000 đồng và đã thanh toán đủ số tiền nợ cho Ngân hàng. Tuy nhiên, sau khi thanh toán xong bà Lê Thị V nguyên là cán bộ tín dụng của Ngân hàng Nngh và phtrnth VN – Chi nhánh NAĐHải Phòng đã không hoàn trả Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số M037053 cho vợ chồng tôi mà dùng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này và giấy tờ cá nhân của bà Đặng Thị Ch ở thôn Đông Am, xã TC, huyện VB để lập hồ sơ tín dụng khống nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản của Ngân hàng. Bà V đã dùng tài sản thế chấp là diện tích 710 m2 đất tại thửa đất số 25, 26 tờ bản đồ số 04; địa chỉ: Thôn NA, xã TC, huyện VB, thành phố Hải Phòng, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số M037053 do Ủy ban nhân dân huyện VB cấp ngày 14-10-1999 để thế chấp cho Ngân hàng khi không được sự đồng ý của vợ chồng anh . Với hành vi của mình tại Bản án hình sự sơ thẩm số 47/2018/HS-ST ngày 07-6-2018 bà Lê Thị V đã bị Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xử phạt tù chung thân về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và buộc V phải bồi thường cho Ngân hàng số tiền đã chiếm đoạt nhưng chưa buộc Ngân hàng phải trả cho vợ chồng anh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên.
Nay để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, anh đề nghị Tòa án nhân dân huyện VB buộc Ngân hàng Nngh và phtrnth VN phải trả cho vợ chồng anh Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số M037053 do Ủy ban nhân dân huyện VB cấp ngày 14-10-1999 đứng tên Vũ Văn .
Người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn - Ngân hàng Nngh và phtrnth VN (Gọi tắt là Ngân hàng) trình bày:
Hiện nay Ngân hàng đang giữ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số M037053 do Ủy ban nhân dân huyện VB cấp ngày 14-10-1999 đứng tên Vũ Văn Đ là tài sản bảo đảm cho khoản tiền vay của bà V. Bà Lê Thị V vẫn chưa thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo yêu cầu của bản án số 47/2018/HS-ST ngày 07-6-2018 của Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng khoản vay của bà Đặng Thị Ch số nợ gốc 400.000.000 đồng, số lãi chưa trả đến ngày 12-11-2021 là: 649.061.111 đồng; Khoản vay này được thế chấp bằng quyền sử dụng đất của ông Vũ Văn . Nên Ngân hàng không trả Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số M037053 cho ông Vũ Văn được vì còn liên quan đến hợp đồng tín dụng chưa được thanh toán là Hợp đồng tín dụng số 79/HĐTD/2118LAV201100615 ngày 20-5-2011 bên vay là bà Đặng Thị Ch còn nợ 400.000.000 đồng gốc và 649.061.111 đồng tiền lãi.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Ngô Thị Đ1 và bà Đặng Thị Ch: Thống nhất với lời khai và đề nghị của nguyên đơn anh Vũ Văn .
Bà Lê Thị V trình bày: Bà là cán bộ tín dụng của Ngân hàng từ năm 1980 đến tháng 11 năm 2012. Trong thời gian này bà đã thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, tại bản án số 47/2018/HSST ngày 07-6-2018 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng đã xử phạt bà tù chung thân về hành vi Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và phải bồi thường cho Ngân hàng số tiền chiếm đoạt, trong việc lừa đảo có việc sử dụng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của anh Vũ Văn , hiện nay giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phía Ngân hàng đang chiếm giữ. Nay bà đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa:
- Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã chấp hành đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
- Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, diễn biến tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc Ngân hàng phải trả lại anh Vũ Văn Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số M037053 do Ủy ban nhân dân huyện VB cấp ngày 14-10-1999 mang tên Vũ Văn ; về án phí bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với vụ án không có giá ngạch với số tiền là 300.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thẩm quyền: Quan hệ tranh chấp trong vụ án được xác định là tranh chấp quyền khác đối với tài sản, theo quy định tại khoản 2 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, thì thẩm quyền giải quyết tranh chấp thuộc Tòa án nhân dân huyện VB, thành phố Hải Phòng. Tòa án nhân dân huyện VB giải quyết theo thủ tục sơ thẩm là đúng thủ tục tố tụng.
Về thời hiệu khởi kiện: Các đương sự không ai có yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xét.
Về những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn người có quyền và nghĩa vụ liên quan không ai đề nghị bổ sung người tham gia tố tụng, nên Hội đồng xét xử không bổ sung ai tham gia tố tụng ngoài những người đã được tòa án triệu tập tham gia tố tụng theo quyết định đưa vụ án ra xét xử.
Về sự vắng mặt của các đương sự: Nguyên đơn anh Vũ Văn ; người đại diện của bị đơn anh Ngô Văn C; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là chị Ngô Thị Tằm, bà Đặng Thị Ch và bà Lê Thị V vắng mặt tại phiên tòa lần thứ nhất, nhưng đều có đơn đề nghị xét xử, giải quyết vắng mặt nên căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt những người này.
Về yêu cầu của nguyên đơn - anh Vũ Văn :
Căn cứ vào lời khai các đương sự và tài liệu có trong hồ sơ vụ án xác định được như sau: Bà Lê Thị V nguyên là cán bộ tín dụng của Ngân hàng đã dùng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số M037053 do Ủy ban nhân dân huyện VB cấp ngày 14-10-1999 mang tên Vũ Văn và giấy tờ cá nhân của bà Đặng Thị Ch để lập hồ sơ tín dụng khống (theo Hợp đồng tín dụng số 79/HĐTD/2118LAV201100615 ngày 20-5-2011 bên vay là bà Đặng Thị Ch) nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản của Ngân hàng. Bà V đã dùng tài sản thế chấp là quyền sử dụng diện tích 710 m2 đất tại thửa đất số 25, 26 tờ bản đồ số 04 toạ lạc tại thôn NA, xã TC, huyện VB, thành phố Hải Phòng, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số M037053 do Ủy ban nhân dân huyện VB cấp ngày 14-10-1999 đứng tên anh Vũ Văn để thế chấp cho Ngân hàng khi không được sự đồng ý của vợ chồng anh . Với hành vi này, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 47/2018/HS-ST ngày 07-6-2018 của Toà án nhân dân thành phố hải Phòng đã xử phạt bà Lê Thị V tù chung thân về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và buộc V phải bồi thường cho Ngân hàng số tiền đã chiếm đoạt. Ngân hàng không trả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh với lý do, bà Lê Thị V chưa trả tiền vay cho ngân hàng. Việc bà V lập hồ sơ giả vay tiền Ngân hàng và dùng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của anh để bảo đảm, anh không biết và không được hưởng lợi gì từ khoản tiền vay này nên anh Vũ Văn không có lỗi. Hành vi lập hồ sơ giả vay tiền Ngân hàng của bà V đã bị xử lý hình sự. Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 47/2018/HS-ST ngày 07-6-2018 của Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng đã xử phạt bà Lê Thị V tù chung thân về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản; đồng thời kiến nghị Ngân hàng trả lại các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, các giấy tờ liên quan đến nhân thân của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, trong đó có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số M037053 do Ủy ban nhân dân huyện VB cấp ngày 14-10-1999 đứng tên anh Vũ Văn . Như vậy, cần xác định giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên anh Vũ Văn không phải là tài sản bảo đảm cho khoản tiền vay đứng tên anh . Nên việc Ngân hàng không đồng ý trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh là không có căn cứ. Yêu cầu của anh Vũ Văn , buộc Ngân hàng phải trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số M037053 do Ủy ban nhân dân huyện VB cấp ngày 14-10-1999 đứng tên anh Vũ Văn là có căn cứ và phù hợp quy định tại các điều 163, 164, 166 Bộ luật Dân sự nên chấp nhận.
Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm b khoản 1 Điều 40; Điều 144; khoản 2 Điều 147, khoản 1 Điều 164, khoản 1 Điều 166, điểm khoản 1 Điều 228; Điều 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các điều 163; 164; 166; 688 của Bộ luật Dân sự.
Căn cứ vào khoản 4 Điều 26; điểm a khoản 2 Điều 27 của của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – anh Vũ văn .
Buộc Ngân hàng phải trả cho anh Vũ Văn Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số M037053 do Ủy ban nhân dân huyện VB cấp ngày 14-10-1999 mang tên Vũ Văn .
2. Về án phí:
Ngân hàng phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Trả lại anh Vũ Văn 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện VB theo biên lai thu số 0000002084 ngày 12-10-2021.
3. Về quyền kháng cáo bản án: Nguyên đơn anh Vũ Văn , bị đơn Ngân hàng, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là chị Nguyễn Thị Hương, ông Trần Văn Tuấn và bà Lê Thị V vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
4. Về quyền yêu cầu thi hành: Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND thành phố Hải Phòng; - VKSND thành phố Hải Phòng; - VKSND huyện VB; - Chi cục THADS huyện VB; - Các đương sự; - Lưu: Hành chính tư pháp, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Đức Vịnh |