- Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "tranh chấp quyền sử dụng đất giữa bà L và ông H"
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Bộ luật Dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOA AN NHÂN DÂN HUYÊN GO DÂU TINH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Ban an sô: 03/2022/DS-ST Ngay: 14-01-2022 “Tranh chấp quyền sử dụng đất” |
NHÂN DANH
NƯƠC CÔNG HOA XA HÔI CHỦ NGHIA VIÊT NAM
TOA AN NHÂN DÂN HUYÊN GO DÂU, TINH TÂY NINH
- Thanh phân Hôi đông xet xư sơ thâm gôm co:
Thâm phan - Chu toa phiên toa: Ba Lê Thị Vân Quỳnh.
Cac Hôi thâm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Trọn
Ba Huỳnh Thị Phương Loan
- Thư ky phiên toa: Ông Lê Đình Văn - Thư ký Toa an nhân dân huyên Go Dâu, tỉnh Tây Ninh.
- Đai diên Viên kiêm sat nhân dân huyên Go Dâu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên toa: Ông Trân Anh Minh - Kiểm sat viên.
Trong cac ngay 11 va 14 thang 01 năm 2022, tai trụ sơ Toa an nhân dân huyên Go Dâu xet xử công khai sơ thâm vụ an thụ lý sô 107/2020/TLST-DS ngay 02 thang 6 năm 2020 về viêc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất” theo Quyêt định đưa vụ an ra xet xử sô 70/2021/QĐXXST-DS ngay 26 thang 11 năm 2021, giưa cac đương sư:
- Nguyên đơn: Ba Trân Thị L, sinh năm: 1957. Trú tai: khu phô K, phường G, thị xã B, tỉnh TN (Có mặt)
- Bị đơn: Ông Trân Văn H (L1), sinh năm: 1974. Địa chỉ: Ô1/93B, KP TH, thị trấn D, huyên D, TN (Có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Trân Văn T, sinh năm: 1968 (Vắng mặt).
2. Ba Nguyễn Kim L2 (H1), sinh năm: 1972 (Vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Ô5/157A, khu phô A, thị trấn D, huyên D, tỉnh TN.
3. Ba Nguyễn Thị Mộng N (Nguyễn Thị N), sinh năm: 1962. Địa chỉ: ấp V, xã P, huyên D, tỉnh TN (Vắng mặt).
4. Ba Trân Thị H2, sinh năm: 1941. Địa chỉ: nha sô 02, tổ 27, khu phô S, thị trấn D, huyên D, tỉnh TN (Vắng mặt)..
5. Ba Thai Thị Nhã T1, sinh năm: 1982. Địa chỉ: sô 144/34A, tổ 9, ấp C, xã TP, huyên C1, Thanh phô HM (Vắng mặt)..
6. Ba Nguyễn Thị Ngọc N1, sinh năm: 1987. Địa chỉ: Thôn TL, xã Y, huyên K1, tỉnh ĐL (Vắng mặt).
7. Ba Trân Thị T2, sinh năm 1970, địa chỉ: Ô/188, KP TH, thị trấn D, huyên D, tỉnh TN (Có mặt).
NÔI DUNG VỤ AN:
Nguyên đơn bà Trân Thị L trình bày: Theo đơn khơi kiên ba yêu câu ông Trân Văn H có nghia vụ tra cho ba phân đất có diên tich 54,29 m2 (ngang 01 met, dai 54,29 met). Sau khi có kêt qua đo đac, ba khơi kiên bổ sung diên tich 9,31 m2, thanh tổng diên tich ba yêu câu ông H tra la 63,6 m2 thuộc một phân thửa đất sô 243, tờ ban đồ sô 09 tọa lac tai khu phô TH, thị trấn D, huyên D, tỉnh TN; có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ba đứng tên được Ủy ban nhân dân (viêt tắt UBND) huyên Go Dâu cấp ngay 08-3-2004, diên tich được cấp 472,7 m2 (tương đương 9 met ngang mặt tiền va 8,5 met ngang mặt hậu), sô vao sổ cấp giấy 0257 QSDĐ/305/2003/QĐ-CT(HL).
Nguồn gôc đất của cha ba (cụ Trân Văn D1, sinh năm 1926 - chêt năm 2009). Khoang năm 2002, cha ba chia đất cho 11 người con (05 người con trai va 06 người con gai). Theo đó, con trai được chia 18 met ngang, con gai được chia 09 met ngang, chiều dai hêt đất (khoang 53 đên 54 met). Khi chia đất thì cha ba, cùng cac anh em ba la ông T va ông T3 (C2) keo dây chia đất cho từng người.
Lúc chia đất, cha ba chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sau khi được chia cac anh em trong nha lân lượt mỗi người đi lam thủ tục để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (lân đâu), anh em không đi lam cùng nên thời điểm được cấp giấy của mỗi người có khac nhau.
Phân đất của ba được chia có vị tri 01 bên giap với đất ông H, một bên giap với đất ba T2, ca 03 người đều không có ai lam hang rao. Ba không sử dụng đất ma để đất trông, do ba sinh sông bên chồng tai phường G, thị xã B. Năm 2004, ông H chuyển nhượng 06 met ngang đất của ông H phia giap ranh với đất của ba nhưng ba không biêt, ông H chỉ ranh đất cho người mua đất như thê nao ba không ro vì không có sư chứng kiên của ba. Sau đó, cung không có ai lam hang rao.
Khoang năm 2012-2013, ba T2 nuôi bo trên ca phân đất của ba T2 va đất của ba; do sợ bo chay ra ngoai, ông H đập chêt nên ba T2 có rao đất của T2 va đất của ba lai trong cùng 01 hang rao (tai vị tri giap ranh giưa đất ba va đất ông H) để tha rong bo trên đất. Ba T2 có hỏi ý kiên ba va được ba chấp nhận. Ba T2 xây hang rao bằng kẽm B40, chôn trụ xi măng, ba có thấy nhưng không để ý vị tri hang rao có đúng ranh đất không vì ba nghi chỉ rao tam để trông giư không cho bo con chay nhay ra ngoai.
Đâu năm 2020, khi ba N1 đên phân đất của ông H giap ranh với đất của ba va chuân bị xây nha. Ba T2 thấy ba N1 xac định không đúng ranh nên có thông bao cho ba biêt, ba đên gặp ba N1 để xac định ranh đất thì hai bên không thông nhất. Cung từ đó, ba phat hiên đất ba bị mất 01 met ngang nên ba khơi kiên yêu câu ông H tra lai đất cho đên nay.
Sau khi khơi kiên ba mới biêt, vao năm 2004 ông H chuyển nhượng cho ba Nguyễn Mộng N 06 met ngang có bao gồm ca diên tich 63,6 m2 thuộc quyền sử dụng của ba. Năm 2007 ba N chuyển nhượng cho ba Phan Thị D2. Năm 2007 ba D2 chuyển nhượng cho ba Lê Thị HT. Năm 2009 ba HT chuyển nhượng cho ba Thai Thị Nhã T1. Năm 2012 ba T1 chuyển nhượng cho ba Nguyễn Thị Ngọc N1.
Do ông H sử dụng lấn chiêm đất của ba, sau đó đất được chuyển nhượng qua cho nhiều người, đên hiên tai la ba N1 đang quan lý sử dụng diên tich 63,6 m2. Vì vậy, ba yêu câu ca ông H va ba N1 có nghia vụ tra cho ba diên tich đất trên.
Bị đơn ông Trân Văn H trình bày: Ba L trình bay về viêc cha ông có chia đất cho cac con la đúng, phân ông được UBND huyên Go Dâu cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngay 22-12-2003, sô 0148/QSDĐ/2003/QĐ-CT(HL), đất thuộc thửa sô 214 tờ ban đồ sô 09 tọa lac tai khu phô TH, thị trấn D, diên tich được cấp la 993,8 m2 (tương đương 19,23 met ngang mặt tiền va 17,42 met ngang met ngang mặt hậu).
Ngay 10-3-2004, ông chuyển nhượng cho ba Nguyễn Thị Mộng N diên tich 326,5 m2 (6 met ngang) với gia 21.000.000 đồng/06 met ngang. Sau đó, đất được chuyển nhượng qua cho nhiều người ông không ro la ai, ông chỉ biêt hiên tai người nhận chuyển nhượng cuôi cùng la ba N1. Khi ông chuyển nhượng cho ba N thì giưa cac ranh đất chưa có lam hang rao, ông la người trưc tiêp cấm trụ để xac định ranh va không có sư chứng kiên của ba L. Khoang năm 2010, ba T2 lam hang rao trên đất của ba L, tai ranh đất ma ông đã xac định trước đó vao năm 2004 khi ông chuyển nhượng đất cho ba N (nay la ba N1).
Khoang đâu năm 2020, ba N1 xây hang rao, ba L ngăn can không cho. Ba L cho rằng trên thưc tê đất của ba L chỉ con có 8 met ngang, mất 01 met ngang la do ông lấn chiêm va đã giao cho ba N (nay la ba N1). Từ đó, ba L yêu câu ba N1 phai tra cho ba L 01 met ngang, ông phai tra cho ba N1 01 met ngang, ông không đồng ý nên ba L khơi kiên ông cho đên nay.
Y kiên của ông la ba L muôn ông tra đất thì ba L phai tra cho ông sô tiền 300.000.000 đồng. Sau đó, ba N1 sẽ giao tra 01 met ngang cho ba L; phân ông giao tra lai 01 met ngang đất của ông cho ba N1 (cho đủ 06 met ngang ma ba N1 đã mua). Tai san trên 01 met ngang đất của ông, ông không có yêu câu giai quyêt. Với điều kiên, đất của ông vẫn phai đủ chiều ngang mặt tiền la 13,23 met va chiều ngang mặt hậu la 11,42 met (đã trừ 06 met ngang ông đã ban). Tức ông T phai tra lai cho ông chiều ngang mặt tiền la 0,86 met va chiều ngang mặt hậu la 0,56 met, diên tich 32,7 m2, đây la diên tich đất ma ông T đang sử dụng của ông (theo như kêt qua đo đac đã thể hiên).
Tai phiên toa, ông không yêu câu ba L phai giao 300.000.000 đồng, cộng với viêc đất ông phai đủ diên tich theo giấy nưa. Ông thay đổi ý kiên va đồng ý với viêc ba N1 giao tra cho ba L 01 met ngang, ông tra cho ba N1 01 met ngang tai vị tri đất của ông. Với điều kiên tai san trên 01 met ngang đất của ông la cây trai ông trồng phai được bồi thường với gia la 10.000.000 đồng; Đồng thời, ông T phai tra lai diên tich ma ông T đã sử dụng lấn đất của ông. Toa an giai thich ông muôn ông T tra lai đất thì phai khơi kiên ông T. Nhưng ông không đồng ý khơi kiên ông T.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trân Văn T trình bày: Viêc cha ông chia đất cho cac con như lời ba L va ông H trình bay la đúng. Đôi với phân đất của ông, ông va vợ ông la ba Nguyễn Kim L2 được UBND huyên Go Dâu cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với diên tich 947 m2 thuộc thửa sô 219, tờ ban đồ sô 09, ngay cấp 06-6-2006, sô 02000/305/2003/QĐ-CT(HL), trong đó chiều ngang mặt tiền la 16,35 met, chiều ngang mặt hậu la 16,70 met.
Sau khi có kêt qua đo đac, so thưc tê với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì chủ thửa đất sô 218 (ba H3) đang sử dụng của ông 0,16 met ngang mặt tiền, 0,94 met ngang mặt hậu (diên tich 56,8 m2); ông đang sử dụng của ông H 0,86 met ngang mặt tiền, 0,56 met ngang mặt hậu (diên tich 32,7 m2). Ông không có tranh chấp gì với ba H3. Lý do, khi ba H3 lam hang rao có mượn giấy đất của ông xem để đôi chiêu trên thưc tê, khi xac định ranh có sư chứng kiên của ông. Do ranh đất giưa 02 bên không thăng nên ông đồng ý bỏ phân diên tich bên đất của ông để ranh đất của ca 02 bên đều la đường thăng. Đôi với diên tich 32,7 m2 ông đang sử dụng của ông H, tam thời ông chưa đồng ý tra. Mặt khac, do ông H không có yêu câu ông tra nên ông chưa có ý kiên. Khi nao ông H có tranh chấp ông sẽ có ý kiên sau. Hiên đất ông đang để trông, chưa lam hang rao, chỉ có 03 trụ xi măng được trồng dọc theo chiều dai giưa đất ông va đất ông H.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Kim L2 đã được Toa an triêu tập nhưng vắng mặt không có lý do chinh đang nên Toa an không thu thập được lời trình bay của ba L2.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Mông N (Nguyễn Thị N) trình bày: Khoang năm 2004-2005, ba có nhận chuyển nhượng từ ông H 06 met ngang đất (diên tich 326,5 m2), thửa đất sô 255 tờ ban đồ sô 09 tọa lac tai khu phô TH, thị trấn D với gia 6.000.000 đồng/met ngang. Khi ba nhận chuyển nhượng la đất trông, ông H va cha ông H chỉ ranh đất cho ba. Sau khi mua khoang 3 năm ba chuyển nhượng lai cho ba D2 (sau nay ba nghe ba D2 đã chêt, ba D2 không có chồng con), gia chuyển nhượng ba không nhớ. Nay ba không con liên quan đên viêc tranh chấp giưa ba L ông H nên ba không có ý kiên hay yêu câu gì.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trân Thị H trình bày: Khoang năm 2009 ba có nhận chuyển nhượng 326,5 m2 quyền sử dụng từ ba Pham Thị D2 với gia 79.000.000 đồng, khi ba nhận chuyển nhượng la đất trông, không ai quan lý sử dụng, cung không có lam hang rao trên đất. Nhưng có cac trụ xi măng cắm sẵn để xac định ranh đất do nhưng người mua đất trước đã xac định. Cùng năm 2009 ba ban cho ba T1 ơ huyên C1, Thanh phô HM với gia 100.000.000 đồng. Theo ba hiên ba không con quyền va nghia vụ gì liên quan đên viêc tranh chấp giưa ba L với ông H nên ba không có ý kiên hay yêu câu gì.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Thai Thị Nha T1 đã được Toa an triêu tập nhưng vắng mặt không có lý do chinh đang nên Toa an không thu thập được lời trình bay của ba T1.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Ngoc N1 trình bày: Vao ngay 09-12-2014, ba có nhận chuyển nhượng từ ba Thai Thị Nhã T1 diên tich 326,5 m2. Với gia la 200.000.000 đồng trên thưc tê (theo hợp đồng la 80.000.000 đồng)/326,5 m2. Ngay 17-12-2014, ba được UBND huyên Go Dâu cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với diên tich 326,5 m2, sô CH01293(CN).
Lúc ba nhận chuyển nhượng, tai vị tri giap ranh với đất của ba L đã xây dưng hang rao lưới B40. Khi lam thủ tục chuyển nhượng không có thâm định lai đất, cung không có sư xac định vị tri của cac chủ đất giap ranh. Đâu năm 2020, ba định xây hang rao để sau đó cất nha ơ nhưng ba L không đồng ý, ba L nói đất đang tranh chấp nên ba ngưng không xây dưng gì trên đất cho đên nay.
Nay ba L khơi kiên ông H va ba, yêu câu tra lai 63,6 m2, hiên ba đang quan lý, ba chấp nhận tra lai cho ba L. Đôi với diên giam la 63,9 m2 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ma ba được cấp về phia đất ông H (theo kêt qua đo đac thể hiên). Lẽ ra, ba khơi kiên ông H hoặc ba T1 (la người chuyển nhượng đất cho ba) để yêu câu được giao thêm phân diên tich 63,9 m2 nay trên thưc tê cho phù hợp với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, hiên tai ba không yêu câu Toa an giai quyêt. Ba cân thời gian để tư thỏa thuận giai quyêt, nêu không được ba sẽ khơi kiên bằng vụ an khac. Mặt khac, hiên sức khỏe ba kem không đủ điều kiên để lam cac thủ tục khơi kiên va đi lai để tham gia giai quyêt tranh chấp. Cho nên ba không có ý kiên hay yêu câu gì đôi với phân diên tich bị mất trên thưc tê so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp la 63,9 m2.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trân Thị T2 trình bày: Viêc ba L va ông H trình bay về vấn đề ba lam hang rao tam trên đất của ba L la đúng, khi lam ba không ro ranh đất giưa ba L va ông H ơ vị tri nao, ba chỉ thấy ranh đất la trụ xi măng do ông H cắm sẵn trước đó; đồng thời, ông H cung chỉ cho ba la tai vị tri nay nên ba lam theo. Viêc tranh chấp giưa ba L va ông H ba không có ý kiên. Ba chỉ yêu câu Toa an giai quyêt theo đúng sô met ngang ma cha ba đã cho cac con trước đó.
Đại diện Viện kiểm sat nhân dân huyện Go Dâu phat biểu ý kiến:
Về tô tụng: Từ khi thụ lý cho đên trước thời điểm Hội đồng xet xử nghị an, Thâm phan, Hội đồng xet xử, Thư ký phiên toa va nhưng người tham gia tô tụng tuân thủ đúng theo phap luật tô tụng dân sư.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xet xử căn cứ vao cac điều 164 va 166 của Bộ luật Dân sư; Điều 166 của Luật Đất đai:
Chấp nhận 01 phân yêu câu khơi kiên của ba Trân Thị L: Ghi nhận ba Nguyễn Thị Ngọc N1 đồng ý tra lai cho ba L phân đất có diên tich 63,6 m2 thuộc một phân thửa đất sô 243, tờ ban đồ sô 09 tọa lac tai khu phô TH, thị trấn D, huyên D, tỉnh TN; có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ba L đứng tên, được UBND Go Dâu cấp ngay 08-3-2004.
Không chấp nhận yêu câu của ba L về viêc yêu câu ông H tra lai diên tich nêu trên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOA AN:
Sau khi nghiên cứu cac tai liêu có trong hồ sơ vụ an được thâm tra tai phiên toa va căn cứ vao kêt qua tranh luận tai phiên toa. Hội đồng xet xử nhận định:
[1] Về tô tụng: Người có quyền lợi, nghia vụ liên quan ba Nguyễn Kim L2 va ba Thai Thị Nhã T1 đã được Toa an triêu tập đên dư phiên toa (lân 2) nhưng vắng mặt không có lý do chinh đang. Ba Trân Thị H, ba Nguyễn Thị Mộng N, ông Trân Văn T va ba Nguyễn Thị Ngọc N1 có đơn xin xet xử vắng mặt. Hội đồng xet xử vẫn tiên hanh xet xử vắng mặt cac đương sư la phù hợp với khoan 1 Điều 228 của Bộ luật Tô tụng dân sư.
Khi khơi kiên, ba L yêu câu ông H có nghia vụ tra lai đất. Sau khi có kêt qua xem xet thâm định tai chỗ ba L khơi kiên bổ sung, yêu câu ba N1 cùng ông H có nghia vụ tra lai đất cho ba. Vì vậy, Toa an thay đổi địa vị tô tụng của ba N1 từ người có quyền lợi nghia vụ liên quan thanh bị đơn la phù hợp với Điều 68 của Bộ luật Tô tụng dân sư.
[2] Về nội dung:
[2.1] Qua xem xet thâm định tai chỗ va định gia tai san tranh chấp thể hiên:
Phân đất ba L yêu câu ông H va ba N1 tra có diên tich 63,6 m2. Tứ cận: Đông giap đất ba L dai 53,2 met, Tây giap đất đất ông H dai 53,11 met, Nam giap thửa 231 dai 1,43 met, Bắc giap đường xi măng bê tông dai 0,97 met. Diên tich nay nằm trong tổng diên tich 472,7 m2, thuộc thửa đất sô sô 243, tờ ban đồ sô 09 tọa lac tai khu phô TH, thị trấn D, huyên D, có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ba L đứng tên, được UBND huyên Go Dâu cấp ngay 08-3-2004. Hiên 63,6 m2 nay do ba N1 đang quan lý sử dụng.
Gia đất 3.773,500 đồng/m2 x 63,6 m2 = 239.994.600 đồng.
Trên đất có hang rao trồng trụ xi măng đúc sẵn, không xây xây móng, keo lưới B40, dai 53,2 met x 50.000 đồng/met = 2.660.000 đồng.
Ngoai ra, so giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp, trên thưc tê ba N1 bị giam 63,6 m2 (0,97 met ngang mặt tiền va 1,43 met ngang mặt hậu) do ông H đang quan lý sử dụng. Ông H bị giam 32,7 m2 (0,86 met ngang mặt tiền, 0,56 met ngang mặt hậu) do ông T đang sử dụng. Ông T bị giam 56,8 m2 (0,16 met ngang mặt tiền, 0,94 met ngang mặt hậu) do chủ thửa đất 218 đang sử dụng. Ba N1, ông H va ông T không có ai tranh chấp đôi với diên tich bị mất trên thưc tê so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp.
[2.2] Xet yêu câu khơi kiên của ba Trân Thị L, thấy rằng: Từ khi được cha la cụ Trân Văn D1 tặng cho đất, đên khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất va trong qua trình sử dụng đất. Tất ca cac đương sư gồm ba T2, ba L, ông H va ông T đều không xac định cụ thể vị tri, diên tich, ranh đất giưa cac bên có đúng như khi được tặng cho, cung như có đúng theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp không.
Từ đó, ông H xac định ranh đất phia giap ranh với ba L không chinh xac khi chuyển nhượng đất cho người đâu tiên la ba N vao năm 2004. Cụ thể, lấn qua thửa đất sô 243 của ba L 63,6 m2. Viêc nay keo dai qua nhưng người nhận chuyển nhượng tiêp theo la ba D2, ba Hêt va ba T1; cho đên người hiên tai la ba N1. Khi ba N1 nhận chuyển nhượng đã không yêu câu thâm định lai đất cung như không yêu câu cac chủ đất tứ cận xac định ranh đất. Dẫn đên trên thưc tê viêc giao nhận đất khi chuyển nhượng có bao gồm (thừa) 63,6 m2 đất thuộc quyền sử dụng của ba L; đồng thời, thiêu 63,9 m2 đất thuộc quyền sử dụng của ba N1.
Đôi với vị tri đất giap ranh giưa ông H va ông T cac bên cung không xac định đúng vị tri ranh đất dẫn đên ông H bị giam 32,7 m2. Phân ông T bị giam 56,8 m2 (diên tich nay ông T cho rằng đã được thông nhất với chủ thửa đất 218). Ba L va ông T do không trưc tiêp sử dụng đất nên đã không kiểm tra ranh đất; ông H có xây nha trên đất nhưng vị tri giap ranh giưa ba L va giap ranh với ông T cung để trông. Nhưng người nhận chuyển nhượng đất từ người đâu tiên cho đên người hiên tai la ba N1 đều không sử dụng đất va đều để đất trông.
[2.3] Từ nhưng nhận định trên thấy rằng, cân chấp nhận yêu câu khơi kiên của ba L, điều chỉnh lai vị tri cùng diên tich đất trên thưc tê cho phù hợp với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp la đam bao hai hoa quyền va lợi ich hợp phap giưa cac bên va có căn cứ theo quy định tai điều 100 của Luật Đất đai. Tuy nhiên, trong vụ an nay chỉ có ba L yêu câu khơi nên Hội đồng xet xử chỉ xem xet yêu câu của ba L. Đôi với ba N1, ông H va ông T không có yêu câu nên Hội đồng xet xử không đặt ra giai quyêt. Khi nao có tranh chấp sẽ được giai quyêt trong vụ an khac.
[2.4] Vị tri đất ba L yêu câu ông H va ba N1 tra hiên ba N1 đang quan lý sử dụng, Ba N1 đồng ý giao tra lai cho ba L. Vì vậy, Hội đồng xet xử cân ghi nhận viêc ba N1 có nghia vụ tra cho ba L 63,6 m2 thuộc thửa đất sô 243, tờ ban đồ sô 09 tọa lac tai khu phô TH, thị trấn D, huyên D, có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ba L được cấp Ủy ban nhân dân huyên Go Dâu cấp ngay 08-3-2004 la có căn cứ theo quy định tai Điều 166 va 170 của Luật Đất đai cac điều 164 va 166 của Bộ luật Dân sư.
[2.5] Ông H không đang quan lý sử dụng 63,6 m2 đất, cung không đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do đó, Hội đồng xet xử không chấp nhận yêu câu của ba L về viêc yêu câu ông H tra lai diên tich 63,6 m2 la có căn cứ như nhận định tai Mục [2.4].
[3] Về an phi dân sư sơ thâm: Căn cứ vao cac điều 12 va 26 Nghị quyêt 326/2016/UBTVQH ngay 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quôc hội quy định về an phi, lê phi Toa an: Ba N1 phai chịu 300.000 đồng; ba L la người cao tuổi nên được miễn tiền an phi.
[4] Về chi phi thâm định tai chỗ va định gia tai san tranh chấp: Ghi nhận ba L tư nguyên chịu 7.700.000 đồng chi phi thâm định tai chỗ va 2.000.000 đồng chi phi định gia tai san tranh chấp, tổng cộng 9.700.000 đồng.
Vì cac lẽ trên,
QUYÊT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 228 của Bộ luật Tô tụng dân sư; cac điều 164 va 166 của Bộ luật Dân sư, cac điều 100, 166 va 170 của Luật Đất đai; cac điều 12 va 26 Nghị quyêt 326/2016/UBTVQH ngay 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quôc hội quy định về an phi, lê phi Toa an
1. Chấp nhận một phân yêu câu khơi kiên của ba Trân Thị L.
Ghi nhận ba Nguyễn Thị Ngọc N1 đồng ý có nghia vụ tra cho ba Trân Thị L phân đất có diên tich 63,6 m2. Tứ cận: Đông giap đất ba L dai 53,2 met, Tây giap đất đất ông H dai 53,11 met, Nam giap thửa 231 dai 1,43 met, Bắc giap đường đất dai 0,97 met, thuộc thửa đất sô 243, tờ ban đồ sô 09 tọa lac tai khu phô TH, thị trấn D, huyên D, có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ba Trân Thị L đứng tên, được cấp Ủy ban nhân dân huyên Go Dâu cấp ngay 08-3-2004, sô 0257 QSDĐ/305/2003/QĐ-CT(HL).
2. Không chấp nhận yêu câu của ba Trân Thị L về viêc yêu câu ông Trân Văn H có nghia vụ lai cho ba L phân diên tich như Mục 1 phân quyêt định đã nêu.
3. Về an phi dân sư sơ thâm: Ba Nguyễn Thị Ngọc N1 phai chịu 300.000 đồng. Ba Trân Thị L la người cao tuổi nên được miễn tiền an phi.
4. Về chi phi xem xet thâm định tai chỗ va định gia tai san tranh chấp: Ba L tư nguyên chịu 9.700.000 đồng. Ghi nhận ba L đã nộp tam ứng sô tiền nay va đã chi xong.
5. Cac đương sư có mặt có quyền khang cao lên Toa an nhân dân tỉnh Tây Ninh trong han 15 ngay kể từ ngay tuyên an. Riêng cac đương sư vắng mặt được quyền khang cao trong han 15 ngay kể từ ngay nhận được ban an hoặc ban an được niêm tai Ủy ban nhân dân xã phường nơi cư trú.
Trường hợp ban an được thi hanh theo quy định tai Điều 2 Luật Thi hanh an dân sư, thì người được thi hanh an dân sư, người phai thi hanh an dân sư có quyền thỏa thuận thi hanh an, quyền yêu câu thi hanh an, tư nguyên thi hanh an hoặc bị cưỡng chê thi hanh an theo quy định tai cac điều 6, 7 va 9 Luật Thi hanh an dân sư; thời hiêu thi hanh an được thưc hiên theo quy định tai Điều 30 Luật Thi hanh an dân sư.
| Nơi nhân: - TAND tỉnh Tây Ninh; - VKSND tỉnh Tây Ninh; - VKSND huyên Go Dâu; - CC THADS huyên Go Dâu; - Cac đương sư; - Lưu. | TM. HÔI ĐÔNG XET XƯ SƠ THÂM THÂM PHAN – CHỦ TỌA PHIÊN TOA Lê Thị Vân Quỳnh |