- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Ngân hàng X- T"
- Tòa quyết gì? Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; các Điều 147, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án…
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ X | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 03/2022/DS-ST Ngày: 10 - 01 - 2022 V/v tranh chấp hợp đồng tin du ̣́ ng, vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ X, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tri ̣nh Thi ̣ Ngo ̣c Hà.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Huỳnh Văn Tâm;
- Bà Võ Thị Thanh Phương.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thi ̣ Thúy Hằng – Thư ký Tòa án nhân dân
thành phố X, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố X tham gia phiên toà: Bà
Huỳnh Thị Bích Vân - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 01 năm 2022, tại Tòa án nhân dân thành phố X xét xử sơ
thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 288/2021/TLST-DS ngày 01 tháng 11
năm 2021 về việc “Tranh chấp hợp đồng tin dụng, vay tài sản” theo Quyết định
́
đưa vụ án ra xét xử số: 105/2021/QĐXXST-DS ngày 06 tháng 12 năm 2021 và
Quyết định hoãn phiên tòa số 59/2021/QĐST-DS ngày 20 tháng 12 năm 2021,
giữa:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP XYZ; Trụ sở chính: số 266x Nam Kỳ
Khởi Nghĩa, phường 8, Quận Y, thành phố H.
Ngườ i đại diê ̣n theo phá p luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D, chức vụ: Tổng
Giám đốc Ngân hàng Thương mại cổ phần XYZ.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Kha Đứ c H, sinh năm
1989, chức vụ: Phó phòng giao di ̣ch X – Chi nhánh An Giang (theo giấy ủy
quyền ngày 07/10/2021), có mă ̣t.
- Bị đơn: Bà Trịnh Phạm Thị T, sinh năm 1986, đi ̣a chi: tổ 11, khóm C,̉
phường C, thành phố X, tỉnh An Giang, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ
phần XYZ (Ngân hàng XYZ) trình bày trong quá trình giải quyết vụ án:
Ngày 27/3/2018 Ngân hàng thương ma ̣i cổ phần XYZ – Chi nhánh An
Giang cho bà Trịnh Phạm Thị T vay số tiền 100.000.000 đồng (một trăm triệu) đồng, theo hợp đồng tín dụng và giấy nhận nợ số LD1808600666 ngày 27/3/2018, mục đích vay tiêu dùng, thời hạn vay 02 năm, lãi suất cho vay 0,75%/năm, phương thức trả nợ, trả vốn, lai hàng thã
́ng.
Quá trình vay, bà T đã trả cho Ngân hàng XYZ được số tiền vốn
60.052.570 đồng, lai 7.586.597 đồng, sau đó ngưng thanh toã
́n kể từ tháng 3/2019 cho đến nay. Do vi pha ̣m nghia vu ̣̃
trả nợ nên Ngân hàng XYZ yêu cầu bà Trịnh Phạm Thị T phải có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng XYZ tổng tiền vốn gốc, lãi tính đến ngày 10/01/2022 là 57.967.724 đồng, trong đó vốn gốc 39.947.430 đồng, lai 18.020.294 đỗ
̀ng (lãi trong hạn 13.132.070 đồng, lãi quá hạn 2.481.734 đồng, phạt quá hạn 2.406.491) đồng thời phải thanh toán lãi phát sinh kể từ sau ngày 10/01/2022 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ số nợ theo hợp đồng tín dụng đã ký.
Trong quá trình tố tụng, Tòa án xác minh, thu thập chứng cứ tại nơi cư trú
được biết, bà Trịnh Phạm Thị T có đăng ký hộ khẩu thường trú và sinh sống tại địa chỉ nêu trên nhưng hiện làm gì không rõ. Tòa án đã thực hiện việc tống đạt và tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật.
- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa
Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử của Thẩm phán,
Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án tại phiên tòa đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại Điều 48, Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật. Riêng bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt lần thứ hai không có lý do, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đương sự là đúng quy định tại Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
Về nội dung vụ án, Xét thấy, việc vay nợ giữa các bên được xác lập trên
cơ sở tự nguyện thỏa thuận, có lập hợp đồng, phù hợp quy định pháp luật, trong thời gian thực hiện hợp đồng bà T vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ cho Ngân hàng. Do đó, việc Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà T trả nợ gốc, lãi là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng; các Điều 463, 466, 468 Bộ luật Dân sự 2015.
Từ những phân tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các quy
định tại các Điều 463, 466, 468 Bộ luật Dân sự 2015, Điều 91, 95 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng XYZ, buộc bị đơn bà Trịnh Phạm Thị T có trách nhiệm trả 57.967.724 đồng cho Ngân hàng XYZ, trong đó: vốn gốc 39.947.430 đồng, lai 18.020.294̃ đồng (lãi trong hạn 13.132.070 đồng, lãi quá hạn 2.481.734 đồng, phạt quá hạn
2.406.491), đồng thời phải thanh toán lãi phát sinh kể từ sau ngày 10/01/2022
cho đến khi thanh toán xong toàn bộ số nợ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại
phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng:
Về thẩm quyền, nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần XYZ
(Ngân hàng XYZ) khởi kiện tranh chấp hợp đồng vay tài sản, bị đơn bà Trịnh
Phạm Thị T có nơi cư trú khóm C, phường C, thành phố X, tỉnh An Giang. Do
đó, viê ̣c Toà án nhân dân thành phố X thụ lý giải quyết là thuộc thẩm quyền theo
quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm b khoản 1 Điều
39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về sự vắng mặt của đương sự, bi ̣ đơn bà Trịnh Phạm Thị T đã được
triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai vẫn vắng mặt, vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành
xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng
dân sự.
Về nội dung:
Xét Hợp đồng tín dụng Hợp đồng và giấy nhận nợ số LD1808600666
ngày 27 tháng 3 năm 2018 giữa Ngân hàng thương ma ̣i cổ phần XYZ và bà
Trịnh Phạm Thị T được giao kết trên cơ sở tự nguyện, hình thức và nội dung
hợp đồng không trái quy định của pháp luật nên làm phát sinh quyền và nghĩa
vụ của các bên theo hợp đồng.
Căn cứ Hợp đồng tín dụng và giấy nhận nợ số LD1808600666 ngày
27/3/2018 giữa Ngân hàng thương ma ̣i cổ phần XYZ (Ngân hàng XYZ) và bà
Trịnh Phạm Thị T có căn cứ xác định, quá trình vay, bà Trịnh Phạm Thị T đã trả
cho Ngân hàng XYZ được số tiền vốn 60.052.570 đồng; lai 7.586.597 đồng, saũ
đó ngưng thanh toán kể từ tháng 3/2019 cho đến nay. Như vậy, bà T đã vi phạm
nghĩa vụ trả nợ, cho nên việc Ngân hàng thương ma ̣i cổ phần XYZ yêu cầu bà T
trả vốn, lai tĩ nh đến ngày 10/01/2022 tổng cô ̣ng là 57.967.724 đồng, trong đó
́
vốn gốc 39.947.430 đồng, lai 18.020.294 đỗ
̀ng (lãi trong hạn 13.132.070 đồng,
lãi quá hạn 2.481.734 đồng, phạt quá hạn 2.406.491), đồng thời phải thanh toán
lãi phát sinh kể từ sau ngày 10/01/2022 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ số
nợ, là có căn cứ và phù hợp vớ i quy đi ̣nh ta ̣i Điều 463, 466, 468 Bộ luật Dân sự
2015; Điều 91, Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, nghĩ nên xét
chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bà Trịnh Phạm Thị T có
trách nhiệm trả cho Ngân hàng XYZ vốn gốc và nợ lãi số tiền là 57.967.724
đồng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 11/01/2022), bị đơn
còn phải tiếp tục chịu lãi phát sinh của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức
lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán
xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng XYZ cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng XYZ cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng XYZ cho vay.
Về án phí dân sự sơ thẩm
Nguyên đơn Ngân hàng XYZ được chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện
nên không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.406.500 đồng.
Bị đơn có nghĩa vụ trả nợ nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là
2.898.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 463, 466, 468 Bộ luật Dân sự 2015; Điều 91, 95 của
Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; các Điều 147, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
[1] Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ
phần XYZ (Ngân hàng XYZ).
Buộc bà Trịnh Phạm Thị T có trách nhiệm trả cho Ngân hàng thương mại
cổ phần XYZ nợ gốc và nợ lãi số tiền 57.967.724 đồng, trong đó vốn gốc 39.947.430 đồng, lai 18.020.294 đỗ
̀ng (lãi trong hạn 13.132.070 đồng, lãi quá hạn 2.481.734 đồng, phạt quá hạn 2.406.491).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm ( ngày 11/01/2022), bị đơn
còn phải tiếp tục chịu lãi phát sinh của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng XYZ cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng XYZ cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng XYZ cho vay.
[2] Về án phi dân sự sơ thẩm:
́
Ngân hàng thương mại cổ phần XYZ không phải chịu án phí dân sự sơ
thẩm. Hoàn trả số tiền 1.406.500 đồng tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai số 0001801 ngày 29 tháng 10 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố X cho đại diện Ngân hàng thương mại cổ phần XYZ là Phòng giao dịch X, chi nhánh An Giang.
Bà Trịnh Phạm Thị T phải chịu 2.898.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
[3] Về quyền kháng cáo:
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, Ngân hàng thương mại cổ phần
XYZ có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử
phúc thẩm. Riêng thời hạn kháng cáo của bà Trịnh Phạm Thị T là 15 ngày kể từ
ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành
án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự
nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,
7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy
định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Các đương sự; - Viện kiểm sát TPCĐ (2); - Tòa án tỉnh An Giang (1); - Thi hành án DS TPCĐ (1); - Lưu hồ sơ (1), - Lưu văn phòng (1). | Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Tri ̣nh Thi ̣ Ngo ̣c Hà |