vanban.org

Bản án 03/2022/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1]. Áp dụng Điều 26; Điều 35 và Điều 39; Điều 147; Điều 161; Điều 180; Điều 184; Điều 227; Điều 228; Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2]. Xử: Buộc anh Đỗ Văn H, chị Phạm Thị L phải trả cho ông Trần Văn S, bà Trần Thị L số tiền 68.250.000đồng. ( Sáu tám triệu hai trăm năm mươi ngàn đồng), trong đó tiền gốc 50.000.000đồng, tiền lãi 18.250.000đồng. Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ng… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "ông S kiện đòi tiền ông H"
  • Tòa quyết gì? [1]. Áp dụng Điều 26; Điều 35 và Điều 39; Điều 147; Điều 161; Điều 180; Điều 184; Điều 227; Điều 228; Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
  • Căn cứ chính? Điều 476 Bộ luật Dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 161 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LẠNG GIANG
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03 /2022/ DS-ST
Ngày: 20 /01/2022
V/v:“Tranh chấp hợp đồng vay tà i sản”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG

THnh phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thu H

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn La, ông Nguyễn Quang Vinh .

Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Thanh Huyền - Thư ký Toà án nhân dân huyện Lạng Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Huệ - Kiểm sát viên.

Trong ngày 20/01/2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 92/2021/TLST-DS ngày 07/10/2021 về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản ; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 187/2021/QĐXX-ST ngày 31 tháng 12 năm 2021giữa các đương sự:

*Nguyên đơn: Ông Trần Văn S , sinh năm 1963 - Có mặt

Đi ̣a chi: Thôn N, xã H, huyê ̣̉

n C, tỉnh Bắc Giang

*Bị đơn: Chị Phạm Thị L, sinh năm 1981 - Có mặt

Anh Đỗ Văn H , sinh năm 1978 - Có mặt

Đi ̣a chi: Tổ dân phố H , Thị trấn K , huyê ̣n C, tỉnh Bắc Giang.

̉

* Ngƣời có quyền lợi nghia vu ̣̃

liên quan:

Bà Trần Thị L , sinh năm 1967 - Vắng mă ̣t

Đi ̣a chi: Thôn N, xã H, huyê ̣̉

n C, tỉnh Bắc Giang.

Đa ̣i diê ̣n theo uỷ quyền của bà Lý: ông Trần Văn S , sinh năm 1963 - Có mặt

Đi ̣a chi: Thôn N, xã H, huyê ̣̉

n C, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và các lời khai tiếp theo, nguyên đơn ông Trần Văn S trình bày: Do có mối quan hê ̣ quen biết nên ngày 21/10/2012 âm lịch (tứ c ngày 04/12/2012 dương li ̣ch) ông có cho vợ chồng Đỗ Văn H và chị Phạm Thị L vay số tiền là 30.000.000đồng và ngày 21/7/2013 âm li ̣ch (tứ c ngày 27/8/2013 dương li ̣ch ) ông tiếp tu ̣c cho vợ chồng chị L, anh H vay số tiền là 20.000.000 đồng, tổng số tiền 02 lần vay là 50.000.000đồng. Anh H, chị L vay tiền để giải quyết công việc gia đinh, khi vay hai bên chi thoả

̉ thuâ ̣n lai suẫ

́t bằng miê ̣ng

̀ là 02%/tháng. Về thờ i ha ̣n trả hai bên chi thoả

̉ thuâ ̣n bằng miê ̣ng khoảng 01 năm sau anh H, chị L có nghĩa vụ phải trả ông cả số tiền gốc và tiền lãi . Khi vay, anh H và chị L là người viết và ký vào giấy vay tiền. Đến nay vợ chồng anh H, chị L chưa trả ông số tiền gốc nào và về tiền lai thĩ

đa trả cho ông đến hết năm 2017 dương̃

̀

lịch thì không trả tiền lãi nữa . Sau đó ông có đến nhà vợ chồng anh H , chị L đòi tiền nhưng anh H, chị L xin khất se trã ̉ sau. Tuy nhiên, đến nay ông đa đến nhã

̀ anh H chị L đòi nhiều lần nhưng không trả được, vâ ̣y ông đề nghị Toà án huyện Lạng Giang buô ̣c vợ chồng anh Đỗ Văn H và chị Phạm Thị L phải trả ông số tiền gốc là 50.000.000đ (Năm nươi triê ̣u đồng) và tiền lãi tính từ ngày 01/01/2018 đến khi kết thúc vụ án theo mức lãi suất 10%/năm.

* Bị đơn chị Phạm Thị L trình bày: Gia đinh chị và ông Trần Văn S là chỗ

̀ quen biết nên vợ chồng chi ̣ có vay tiền của ông S 02 lần: Ngày 21/10/2012 âm li ̣ch vợ chồng chị có vay số tiền 30.000.000 đồng và ngày 21/07/2013 âm li ̣ch vay số tiền 20.000.000đồng. Vợ chồng chị vay tiền mu ̣c đich để giải quyết công viê ̣c gia

́ đinh bồi thườ ng tai na ̣n giao thông . Khi vay hai bên không thoả thuâ ̣n thờ i ha ̣n trả ; ̀ về lai suẫ

́t hai bên chi thoả

̉ thuâ ̣n miê ̣ng lai suẫ

́ t là 2.000 đồng/triê ̣u/ngày. Đến nay, vợ chồng chi ̣ đa trã ̉ tiền lai cho ông S đến hết ngày 30/12/2017, còn số tiền gốc vẫñ chưa trả được cho ông S . Nay ông S khở i kiê ̣n gia đinh chi ̣ trả số tiền gốc

̀ 50.000.000 đồng thi chi ̣ đồng ý trả số tiền gốc ch o ông S nhưng xin trả dần vi gia

̀

̀ đinh khó khăn, hay ốm đau bê ̣nh tâ ̣t, về tiền lai thĩ

chi ̣ không đồng ý trả tiền lai chõ ̀

̀ ông S vì gia đình chị trả tiền lãi cho ông S nhiều rồi. Hiê ̣n nay, anh Hchồng chi ̣ đi làm ăn xa , cụ thể địa chỉ ở đâu thì chị không nắm được vì ít khi anh H liên la ̣c về nhà. Các văn bản tố tụng của Toà án gửi cho anh H , chị L không nhâ ̣n thay mà đề nghị Toà án tống đạt văn bản theo quy định pháp luật.

Quá trình giải quyết vụ án Tòa án tiến hành thủ tục thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng về các văn bản tố tụng cho bi ̣ đơn anh Đỗ Văn H , sau đó anh H đến Toà án làm việc và trình bày : Vợ chồng anh có vay tiền của ông Trần Văn S 02 lần vào ngày 21/10/2012 và ngày 21/7/2013 âm li ̣ch vớ i tổng số tiền vay là 50.000.000đồng. Mục đích vay giải quyết công việc gia đình đi bồi thường tai nạn giao thông. Khi vay hai bên không thoả thuâ ̣n thờ i ha ̣n trả ; về lai suẫ

́t hai bên chỉ thoả thuận miệng lãi suất là 2.000 đồng/triê ̣u/ngày. Đến nay, về tiền lai đã

trã ̉ cho ông S bao nhiêu thi anh không nhớ vi anh giao cho chi ̣ L trả tiền lãi cho ông S,

̀

̀

còn số tiền gốc gia đình tôi vẫn chưa trả được cho ông S. Nay ông S khở i kiê ̣n, anh đồng ý trả ông S số tiền gốc nhưng xin trả dần vi điều kiê ̣n gia đinh khó khăn ; về

̀

̀ tiền lai anh không đỗ

̀ng ý trả vi gia đinh anh trả lai cho ông S̃

nhiều rồi.

̀

̀

Ngƣời có quyền lợi nghia vu ̣̃

liên quan bà Trần Thị L trình bày: Bà hoàn toàn nhất tri vớ i yêu cầu khở i kiê ̣n của ông S đề nghị Toà án buộc vợ chồng anh H,

́ chị L phải trả số tiền gốc 50.000.000 đồng và tiền lãi. Hiê ̣n nay, bà đã uỷ quyền cho ông S tham gia tố tu ̣ng ta ̣i Toà án có toàn quyền quyết đi ̣nh trong viê ̣c khở i kiê ̣n gia đinh anh H, chị L trả số tiền trên . Các văn bản của Toà án , bà đề nghị Toà án giao ̀ lại cho ông S và ông S sẽ giao la ̣i cho bà.

Tại biên bản xác minh tại địa phương với Công an thị trấn K, Tổ trưở ng tổ dân phố H thì được cung cấp thông tin: Anh Đỗ Văn H , sinh năm 1978 có hộ khẩu thườ ng trú ta ̣i Tổ dân phố H , thị trấn K, huyê ̣n C, tỉnh Bắc Giang. Anh H chưa xin khai tạm vắng tại địa phương và tạm trú ở đâu, anh H thườ ng xuyên vắng mă ̣t ta ̣i đi ̣a phương, không biết anh H đi đâu và làm gi.

̀

Quá trình giải quyết vụ án Toà án tiến hành thủ tục hoà giải nhưng bị đơn anh H, chị L vắng mă ̣t, ông S có đơn đề nghị không tiến hành hoà giải nên các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Tại phiên tòa hôm nay, ông S trình bày: Ông vẫn giữa nguyên yêu cầu khở i kiê ̣n như đơi khở i kiê ̣n và các lờ i trinh bày ta ̣i Toà án và không bổ sung gi thêm ,về

̀

̀ tiền lãi ông yêu cầu trả lãi từ ngày 01/01/2018 cho đến khi xét xử theo lãi xuất cơ bản tại thời điểm cho vay năm 2012 của ngân hàng Nhà nước nước là 09%/ năm. Ông S yêu cầu trả cùng một lúc gốc và lãi không đồng ý trả dần.

Bị đơn chị L trình bày: Chị đồng ý với yêu cầu tiền gốc và tiền lãi như ông S trình bày nhưng chị đề nghị ông S tạo điều kiện cho vợ chồng chị trả dần.

Anh H trình bày: Anh đồng ý với ý kiến của chị L vợ anh và không trình bày gì thêm.

- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang tham gia phiên tòa: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký trong quá trình điều tra giải quyết vụ án và của Hội đồng xét xử tại phiên tòa đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án đều thực hiện nghiêm túc, đúng theo quy định của pháp luật. Bị đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình.

- Về quan điểm giải quyết vu ̣ án : Chấp nhâ ̣n yêu cầu khở i kiê ̣n của ông Trần Văn S: Buô ̣c vợ chồng chi ̣ Pha ̣m Thi ̣ L, anh Đỗ Văn H phải trả cho ông S số tiền gốc là 50.000.000 (Năm mươi triê ̣u đồng) và tiền lãi theo quy định pháp luật.

Về án phí: Chị Phạm Thị L, anh Đỗ Văn H chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa sau khi tiến hành nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:

.Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã tiến hành đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án.

. Về thẩm quyền giải quyết vụ án:Quan hệ giữa ông Trần Văn S và chị Phạm Thị L, anh Đỗ Văn H là quan hệ dân sự giữa cá nhân với cá nhân, các bên đã không tự giải quyết được tranh chấp phát sinh, nguyên đơn đã làm đơn khởi kiện theo thủ tục tại Tòa án. Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang giải quyết là phù hợp với quy định của pháp luật và thẩm quyền được qui định tại các Điều 26; Điều 35; Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

.Về thời hiệu khởi kiện và quan hệ pháp luật tranh chấp thì thấy:

Ngày 21/10/2012 âm li ̣ch (tứ c ngày 04/12/2012 dương li ̣ch) ông S có cho vợ chồng Đỗ Văn H và chị Phạm Thị L vay số tiền là 30.000.000đồng và ngày 21/7/2013 âm li ̣ch (tứ c ngày 27/8/2013 dương li ̣ch) ông tiếp tu ̣c cho vợ chồng chi ̣ L, anh H vay số tiền là

20.000.000 đồng, tổng số tiền 02 lần vay là 50.000.000đồng, khi viết giấy các bên không thỏa thuận ngày trả không thỏa thuận lãi xuất, tại Tòa án các bên đều thỏa thuận đã trả lãi đến hết tháng 12/2017, đến ngày 04/10/2020 ông S nộp đơn khởi kiện ra Tòa án, yêu cầu bà L, ông H phải trả số tiền 50.000.000đồng và tiền lãi theo lãi xuất 10%/ năm kể từ tháng 01/2018. Đây là "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản", theo quy định tại khoản 1 Điều 184 Bộ luật tố tụng dân sự, thì thời hiệu khởi kiện vẫn còn.

. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì thấy: Ngày 21/10/2012 âm li ̣ch (tứ c ngày 04/12/2012 dương li ̣ch) vợ chồng Đỗ Văn H và chị Phạm Thị L vay số tiền là 30.000.000đồng và ngày 21/7/2013 âm li ̣ch (tứ c ngày 27/8/2013 dương li ̣ch) vợ chồng chi ̣ L, anh Hvay số tiền là 20.000.000 đồng của ông S, bà L, tổng số tiền 02 lần vay là 50.000.000đồng, chị L, anh H viết giấy và ký nhận nợ với ông S, bà L, quá trình giải quyết vụ án chị L, anh H cũng thừa nhận có vay của ông S với số tiền 50.000.000đồng, nhưng do điều kiện kinh tế khó khăn chưa trả được và nay xin được trả dần, lời khai của anh H, chị L phù hợp với lời khai của ông S, bà L, như vây có thể khẳng định việc chị L, anh H có nợ ông S, bà L số tiền 50.000.000đồng và ông S, bà L yêu cầu chị L, anh H phải trả tiền nợ gốc là có căn cứ được chấp nhận phù hợp với quy định của pháp luật tại Điều 463; Điều 466 và Điều 469 Bộ luật dân sự.

.Về lãi xuất: Trong quá trình giải quyết vụ án ông S, bà L yêu cầu chị L, anh H phải thanh toán cho ông, bà theo lãi xuất 10%/ năm, tính từ tháng 01/2018 cho đến khi xét xử sơ thẩm. Quá trình giải quyết vụ án chị L, anh H có trình bày, khi vay thỏa thuận lãi 2000đồng / ngày, đã trả ông S tiền lãi đến hết tháng 12/2017 và trả nhiều lần và trả nhiều tiền, nhưng không nhớ vụ thể là bao nhiêu tiền và không có tài liệu chứng cứ chúng minh đã trả được bao nhiêu tiền, đến nay anh, chị không trả lãi cho ông S nữa. Đối với yêu cầu trả lãi của ông S thì thấy chị L, anh H trình bày vay với lãi xuất 2000đồng / ngày, ông S trình bày vay lãi xuất 2%/ tháng, do các bên có tranh chấp về lãi xuất và không xác định được lãi xuất, khoản vay từ năm 2012, tại phiên tòa hôm nay ông S đề nghị tính lãi xuất theo lãi xuất cơ bản của ngân hàng tại thời điểm cho vay năm 2012, nên cần áp dụng Bộ luật dân sự 2005 để xác định mức lãi xuất, căn cứ vào khoản 2 Điều 476 Bộ luật dân sự 2005 thì tại thời điểm từ năm 2011 đến 30/12/2014 lãi xuất cơ bản của Ngân Hng NH nước quy định 9%/ năm, tương đương với 0,75%/ tháng và tính từ tháng 01/2018, nên chấp nhận tính theo lãi xuất 0,75%/ tháng như ông S yêu cầu.

- Số tiền 50.000.000đồng tính lãi từ ngày 01/01/2018 đến khi xét xử sơ thẩm ( 20/01/2022) là 48 tháng, 20 ngày.

Số tiền 50.000.000đồng x lãi xuất 0.75%/ tháng = 375.000 đồng x 48 tháng, 20 ngày = 18.250.000đồng tiền lãi .

Tổng số tiền gốc và lãi chị L, anh H phải thanh toán trả là: 68.250.000đồng

. Đối với chi phí thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng ông Trần Văn S đã đăng tin thông báo cho anh Đỗ Văn H về việc Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang đang giải quyết việc kiện giữa ông Trần Văn S với anh Đỗ Văn H trên Đài tiếng nói Việt Nam, trên báo Công lý và trên Cổng thông tin điện tử Tòa án, theo quy định tại Điều 180 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì lệ phí do đương sự có yêu cầu thông báo chịu, do vậy ông Trần Văn S phải chịu chi phí đăng tin. Xác nhận ông Trần Văn S đã thanh toán xong chi phí thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng.

[7. Về án phí: anh Đỗ Văn H, chị Phạm Thị L thuộc diện hộ cận nghèo nên được miễn án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016.

Ông Trần Văn S không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

[1]. Áp dụng Điều 26; Điều 35 và Điều 39; Điều 147; Điều 161; Điều 180; Điều 184; Điều 227; Điều 228; Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Áp dụng Điều163, Điều 169; Điều 471; Điều 474; Điều 476; Điều 477; Bộ luật dân sự năm 2005; Điềm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

[2]. Xử: Buộc anh Đỗ Văn H, chị Phạm Thị L phải trả cho ông Trần Văn S, bà Trần Thị L số tiền 68.250.000đồng. ( Sáu tám triệu hai trăm năm mươi ngàn đồng), trong đó tiền gốc 50.000.000đồng, tiền lãi 18.250.000đồng.

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi xuất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

[3]. Về án phí: Anh Đỗ Văn H, chị Phạm Thị L không phải chịu án phí DSST.

Ông Trần Văn S không phải chịu án phí. Hoàn trả ông S số tiền 1.700.000đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0012416 ngày 07 tháng 10 năm 2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lạng Giang.

ÔngTrần Văn S phải chịu 5.000.000đồng chi phí đăng tin trên phương tiện thông tin đại chúng, xác nhận ông S đã thi hành xong khoản tiền này.

[4]. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ nhận được tống đạt hoặc niêm yết bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2- Luật thi Hnh án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7, 7a, 7b và 9 - Luật thi Hnh án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 - Luật thi hành án dân sự .

Án xử công khai sơ thẩm./.

Cỡ chữ