vanban.org

Bản án 03/2021/KDTM-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Quỹ trợ V đối với bà Võ Thị V và ông Trần Văn P.

Buộc bà Võ Thị V và ông Trần Văn P có trách nhiêm liên đới trả cho Quỹ trợ V số tiền nợ 65.300.000 đồng (Sáu mươi lăm triệu ba trăm ngàn đồng). Kể từ ngày Quỹ trợ V có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bà Võ Thị V và ông Trần Văn P không trả số tiền nêu trên thì hàng tháng bà Võ Thị V và ông Trần Văn P c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Quỹ trợ V đối với bà Võ Thị V và ông Trần Văn P.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH12 Án phí, lệ phí tòa án; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CẦN GIỜ
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2021/KDTM-ST
Ngày: 13/12/2021
V/v Tranh chấp hợp đồng
vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIỜ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Thụ.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trương Văn Lộc

Bà Lê Thị Nga

Thư ký phiên toà: Ông Trần Văn Mạnh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Vương – Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 12 năm 2021, tại phòng xử án của Tòa án nhân dân huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số 10/2015/TLST-KDTM ngày 05 tháng 5 năm 2015 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 72/2021/QĐXXST-KDTM ngày 27 tháng 10 năm 2021, Quyết định hoãn phiên tòa số 106/2021/QĐST-KDTM ngày 23 tháng 11 năm 2021, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Quỹ trợ V.

Địa chỉ: 213 A, phường B, Quận C, Thành phố D

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Hoàng Kinh T, sinh năm 1978

Địa chỉ: 50/4 E, phường F, quận G, Thành phố D.

- Bị đơn: Bà Võ Thị V, sinh năm: 1979

Địa chỉ: ấp H, xã I, huyện K, Thành phố D.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1. Hợp tác xã T.

Địa chỉ: ấp L, xã xã I, huyện K, Thành phố D.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Phan Thành T – giám đốc.

Địa chỉ: ấp L, xã xã I, huyện K, Thành phố D.

2. Ông Trần Văn P, sinh năm: 1979

Địa chỉ: ấp H, xã I, huyện K, Thành phố D.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 05/3/2015 và trong quá trình giải quyết vụ án người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Hoàng Kinh T trình bày:

Ngày 28 tháng 12 năm 2011 Quỹ trợ V đã đăng ký hợp đồng trách nhiệm với Hợp tác xã T để làm cấp liên nhiệm cho Quỹ V, hợp đồng số: XXX/HĐTN-TT-CCM/2011. Mục đích là hỗ trợ vốn cho các xã viên mua bạt sản xuất muối theo chương trình khuyến khích chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp của Thành phố giai đoạn 2011-2015.

Thông qua hoạt động trợ vốn của Quỹ V, ngày 28/12/2011 Quỹ CCM đã trợ vốn cho bà Võ Thị V số tiền: 50.000.000 đồng, thời hạn 36 tháng, phí trợ vốn 0.7%/tháng, phí CLN: 0.15%/tháng, tính theo phương thức góp, hình thức trả làm 3 kỳ (12 tháng trả 1 kỳ).

Đến ngày 29/10/2015 đợt vay đã hết hạn nhưng bà Võ Thị V vẫn còn nợ Quỹ V vốn: 50.000.000 đồng, phí trợ vốn: 12.600.000 đồng, phí CLN: 2.700.000 đồng. Tổng cộng số tiền bà Võ Thị V phải trả cho Quỹ V là 65.300.000 đồng. Quỹ V đã liên tục đôn đốc đòi nợ nhưng bà Võ Thị V cố tình lẩn tránh không chịu hoàn trả số tiền trên.

Vì vậy, nay Quỹ trợ V yêu cầu Tòa án buộc và Võ Thị V và chồng là ông Trần Văn P có trách nhiệm liên đới trả cho Quỹ trợ V số tiền: 65.300.000 đồng và không yêu cầu trả lãi và các khoản phí phát sinh khác tính từ ngày 29/10/2015 đến ngày xét xử. Yêu cầu trả ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Tại bản tự khai ngày 13/6/2018 bị đơn bà Võ Thị V có trình bày như sau: Bà và chồng là ông Trần Văn P khi ly hôn đã thỏa thuận ông Trần Văn P sẽ là người trả khoản nợ 50.000.000 đồng cho Quỹ trợ V, vì vậy bà không còn trách nhiệm với số tiền nợ nêu trên. Ngoài ra bà không có ý kiến gì khác.

Quá trình giải quyết vụ án người đại diện theo pháp luật của Hợp tác xã T là ông Phan Thành T trình bày:

Vào năm 2011 Quỹ trợ V đã đăng ký hợp đồng trách nhiệm với Hợp tác xã T để làm cấp liên nhiệm cho V. Mục đích là hỗ trợ vốn cho các xã viên mua bạt sản xuất muối theo chương trình khuyến khích chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp của Thành phố giai đoạn 2011-2015.

Theo hợp đồng trên thì bà Võ Thị V có vay của Quỹ trợ V số tiền 50.00.000 đồng và tiền lãi phát sinh theo hợp đồng. Do đây là khoản vay của bà Võ Thị V với Quỹ trợ V nên bà V có nghĩa vụ trả Quỹ trợ V chứ không liên quan đến Hợp tác xã T.

Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn P: Ông P vắng mặt tại phiên tòa và quá trình giải quyết cũng không có văn bản phản hồi về yêu cầu đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Tòa án nhân dân huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý và giải quyết theo thủ tục sơ thẩm là đúng thẩm quyền. Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân thủ theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến trình bày của đương sự. Hội đồng xét xử xét thấy:

Về tố tụng:

- Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Theo yêu cầu khởi kiện của Quỹ trợ vốn xã viên hợp tác xã Thành phố Hồ Chí Minh và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện quan hệ pháp luật đang tranh chấp là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 30 Bộ luật tố tụng dân sự.

Bị đơn bà Võ Thị V có nơi cư trú tại ấp H, xã I, huyện K, Thành phố D. Do đó, đây là vụ án dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về sự vắng mặt của đương sự:

Tại phiên toà hôm nay, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Hoàng Kinh T; bị đơn bà Võ Thị V và người đại diện theo pháp luật của Hợp tác xã T là ông Phan Thành T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn P đã được Toà án triệu tập hợp lệ đến đến phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

Về nội dung vụ án:

Ngày 28 tháng 12 năm 2011 Quỹ trợ vốn V đã đăng ký hợp đồng trách nhiệm với Hợp tác xã T để làm cấp liên nhiệm cho Quỹ V, hợp đồng số: XXX/HĐTN-TT-CCM/2011. Mục đích của Hợp đồng số XXX/HDDTN-TT-CCm/2011 ngày 28 tháng 12 năm 2011 là hỗ trợ vốn cho các xã viên mua bạt sản xuất muối theo chương trình khuyến khích chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp của Thành phố giai đoạn 2011-2015.

Bà Võ Thị V có làm đơn xin trợ vốn gửi đến Giám đốc Quỹ trợ V, có tên trong Danh sách đề nghị trợ vốn của xã viên, người lao động trong tổ hợp tác, hợp tác xã đơn vị Hợp tác xã T ngày 20 tháng 12 năm 2011, cũng như ký tên vào Danh sách nhận trợ vốn kiêm biên bản bàn giao vốn từ Quỹ CCM ngày 28/12/2011 với số tiền nhận là 50.000.000 đồng, thời hạn 36 tháng, phí trợ vốn 0.7%/tháng, phí CLN: 0.15%/tháng, tính theo phương thức góp, hình thức trả làm 3 kỳ (12 tháng trả 1 kỳ).

Tại thời điểm ký Biên bản bàn giao vốn ngày 28/12/2011, bà Võ Thị V có khả năng bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện các quyền và nghĩa vụ dân sự theo quy định. Do đó, khi ký kết vào Biên bản bàn giao vốn ngày 28/12/2011 bà Vỗ Thị V có năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định của pháp luật. Việc giao kết hợp đồng được thực hiện trên cơ sở tự nguyện của các bên, thời điểm xác lập hợp đồng phù hợp theo quy định của pháp luật, không trái với đạo đức xã hội nên ghi nhận việc bà Võ Thị V được trợ vốn 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng chẵn) từ Quỹ V, thời hạn 36 tháng, phí trợ vốn 0.7%/tháng, phí CLN: 0.15%/tháng, tính theo phương thức góp, hình thức trả làm 3 kỳ (12 tháng trả 1 kỳ) là có căn cứ.

Tuy nhiên, ngày 29/10/2015 đợt vay đã hết hạn nhưng bà Võ Thị V vẫn còn nợ Quỹ V vốn: 50.000.000 đồng, phí trợ vốn: 12.600.000 đồng, phí CLN: 2.700.000 đồng. Tổng cộng số tiền bà Võ Thị V phải trả cho Quỹ CCM là 65.300.000 đồng. Quỹ V đã liên tục đôn đốc đòi nợ nhưng bà Võ Thị V cố tình lẩn tránh không chịu hoàn trả số tiền trên. Từ đó, các bên phát sinh tranh chấp.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì thấy:

Để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình thì nguyên đơn có xuất trình chứng cứ là Hợp đồng số XXX/HĐTN-TT-CCM/2011 ngày 28 tháng 12 năm 2011 ký kết giữa Quỹ trợ V và Hợp tác xã T, mục đích là hỗ trợ vốn cho các xã viên mua bạt sản xuất muối theo chương trình khuyến khích chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp của Thành phố giai đoạn 2011-2015. Ngoài ra, nguyên đơn cung cấp Đơn xin trợ vốn của bà Võ Thị V gửi Giám đốc Quỹ trợ V. Bên cạnh đó, nguyên đơn cũng cung cấp Danh sách nhận trợ vốn kiêm biên bản bàn giao vốn ngày 28/12/2011 có tên bà Võ Thị V với số tiền trợ cấp nhận được là 50.000.000 đồng có chữ ký xác nhận của bà Võ Thị V. Cho đến nay, đợt vay đã hết hạn nhưng bà V vẫn còn nợ Quỹ V tổng cộng 65.300.000 đồng. Đồng thời quá trình giải quyết vụ án bị đơn fõ Thị V cũng thừa nhận vẫn còn nợ Quỹ V số tiền 50.000.000 đồng. Từ những căn cứ nêu trên, xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Xét thấy, đây là khoản vay của bà Võ Thị V và ông Trần Văn P dùng vào mục đích chung của gia đình, vì vậy, bà Võ Thị V và ông Trần Văn P phải có trách nhiệm liên đới với nhau để thanh toán số tiền vay cho nguyên đơn theo quy định tại Điều 27 và khoản 2 Điều 37 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

V án phí sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận nên bị đơn bà Võ Thị V và ông Trần Văn P phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147, khoản 3 Điều 200, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Căn cứ Điều 91, 95, 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;

- Căn cứ các điều 6, 7, 7a, 9 và 30 Luật thi hành án dân sự.

- Căn cứ vào Pháp lệnh án phí số 10/2009/UBTVQH12 ngày 27/02/2009 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Quỹ trợ V đối với bà Võ Thị V và ông Trần Văn P.

Buộc bà Võ Thị V và ông Trần Văn P có trách nhiêm liên đới trả cho Quỹ trợ V số tiền nợ 65.300.000 đồng (Sáu mươi lăm triệu ba trăm ngàn đồng).

Kể từ ngày Quỹ trợ V có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bà Võ Thị V và ông Trần Văn P không trả số tiền nêu trên thì hàng tháng bà Võ Thị V và ông Trần Văn P còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời gian chậm thi hành án.

2. Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:

Bà Võ Thị V và ông Trần Văn P phải chịu số tiền 3.265.000đ (Ba triệu hai trăm sáu mươi lăm ngàn đồng). Trả cho Quỹ trợ V số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.632.5.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: AC/2010/XXXXX ngày XX/XX/XXXX của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cần Giờ.

3. Quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

4. Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu thi hành án:

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b, 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ