- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Võ Ngọc H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN N DÂN THÀNH PHỐ Q TỈNH BÌNH ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 03/2021/HSST Ngày: 05-01-2021 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN N DÂN THÀNH PHỐ Q - TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan M Dũng
Các hội thẩm N dân:
1. Bà Trịnh Thị Xuân H
2. Ông Phạm Ngọc Đông:
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hoàng Hương Giang là Thư ký Tòa án N dân TP. Q, tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân TP. Q tham gia phiên tòa: Ông Đặng Thành Thi là Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 01 năm 2021 tại trụ sở Tòa án N dân thành phố Q, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 132/2020/HSST, ngày 29 tháng 10 năm 2020, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 216/2020/QĐXXST-HS, ngày 10 tháng 12 năm 2020 đối với bị cáo:
VÕ NGỌC H, sinh năm 1999 tại TP. Q, tỉnh Bình Định; Nơi đăng ký N khẩu thường trú: Tổ 18, khu vực 4, phường H, TP Q, tỉnh Bình Định; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm biển; Trình độ văn hóa: 7/12; Con ông Võ Văn S, sinh năm 1974 và bà Trần Thị T, sinh năm 1979; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; N thân: Ngày 18/12/2015, bị Tòa án N dân tỉnh Bình Định xử phạt 05 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”, đã xóa án tích. Ngày 03/02/2018, bị Công an phường H, Tp Q xử phạt hành chính 1.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”; Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
- Bị hại:
1. Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1959; vắng mặt
Nơi cư trú: đường T, phường H, TP. Q, tỉnh Bình Định.
2. Chị Nguyễn Thị Cẩm Tiên, sinh năm 1999; vắng mặt
Nơi cư trú: đường N, phường H, TP. Q, tỉnh Bình Định.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Phương Thị D, sinh năm 1968; vắng mặt, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
Nơi cư trú: đường K, thành phố Q, tỉnh Bình Định.
2. Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1984; vắng mặt
Nơi cư trú: đường Đ, thành phố Q, tỉnh Bình Định.
3. Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1982; vắng mặt, vắng mặt, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt
Nơi cư trú: đường T, phường H, TP. Q, tỉnh Bình Định.
NỘI D VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội D vụ án được tóm tắt như sau:
Do cần tiền tiêu xài, nên Võ Ngọc H nảy sinh ý định tìm ai sơ hở trong việc bảo quản xe đạp điện để trộm cắp. Võ Ngọc H đã thực hiện hai vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn phường H, Tp Q, cụ thể như sau:
- Vụ thứ nhất: Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 28/4/2020, Võ Ngọc H đi dạo bộ trên đường T, phường H, Tp Q thấy có 01 xe đạp điện hiệu HITASA, màu vàng của bà Nguyễn Thị N (sinh năm: 1959, trú tại: đườngT, phường H, Tp Q) để trước nhà không khóa cổ, không người trông coi, nên lén lút dắt chiếc xe trên đem về khu đất trống thuộc khu vực Cầu Đen, phường H, Tp Q cất giấu rồi đi về nhà. Đến khoảng 17 giờ 00 phút cùng ngày, H đến tháo bình điện của xe đem đến tiệm phế liệu “Phương D” ở số 16 K thuộc tổ 52, khu vực 10, phường H, Tp Q bán cho bà Phương Thị D thu được 200.000 đồng. Khoảng 30 phút sau, H tiếp tục đem chiếc xe đạp điện (không có bình điện) đến tiệm Phương D bán phế liệu cho bà D được 200.000 đồng. Số tiền thu được H tiêu xài cá nhân hết.
- Vụ thứ hai: Khoảng 13 giờ 00 phút ngày 30/4/2020, Võ Ngọc H đi dạo bộ đến khu nhà trọ ở 21 N, phường H, Tp Q, H thấy dưới chân cầu thang nhà trọ có 01 chiếc xe đạp điện hiệu Exciter GP, màu đỏ của chị Nguyễn Thị Cẩm Tiên (Sinh năm: 1999, trú tại: Xã Ân Nghĩa, huyện H Ân, tỉnh Bình Định, thuê trọ tại địa chỉ trên) không có khóa cổ xe, không ai trông coi, nên H lén lút dắt xe đạp điện nêu trên đến khu vực Cầu Đen, phường H, Tp Q cất giấu. Ngày 01/5/2020, H đến tháo lấy bình điện của xe rồi đem đến tiệm phế liệu tại số nhà 94 Đ, phường Thị Nại, Tp Q bán cho bà Nguyễn Thị M thu được 290.000 đồng rồi sau đó đem xe đạp không có bình điện đến tiệm phế liệu tại số 01 T, phường Đ, Tp Q bán cho bà Nguyễn Thị L thu được 120.000 đồng. Số tiền thu được H tiêu xài cá nhân hết.
Ngày 03/8/2020, Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự Tp Q, kết luận: Xe đạp điện hiệu Exciter GP màu đỏ, đen, đã qua sử dụng, chất lượng còn lại khoảng 60%, khảo sát giá tại thời điểm là 4.000.000 đồng; Xe đạp điện hiệu HITASA màu vàng, đã qua sử dụng, chất lượng còn lại khoảng 50%, khảo sát giá tại thời điểm là 1.500.000 đồng.
Cơ quan CSĐT - Công an TP. Q đã tạm giữ: 01 xe đạp điện nhãn hiệu HITASA, màu vàng, yên xe bị gãy, đã qua sử dụng. Ngày 09.8.2020, Cơ quan CSĐT Công an Tp Q đã ban hành Quyết định trả 01 xe đạp điện nhãn hiệu HITASA, màu vàng, yên xe bị gãy cho chủ sở hữu là bà Nguyễn Thị N. Đại diện gia đình bị can Võ Ngọc H đã bồi thường cho chị Nguyễn Thị Cẩm T số tiền 4.000.000 đồng.
Bà Nguyễn Thị N, chị Nguyễn Thị Cẩm T và bà Phương Thị D không yêu cầu bồi thường gì thêm.
Bản cáo trạng số 125/CT-VKSQN ngày 29/10/2020 Viện kiểm sát N dân TP. Q truy tố Võ Ngọc H về tội: “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Bị cáo Võ Ngọc H thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã truy tố. Do đó, Viện kiểm sát N dân thành phố Q giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Võ Ngọc H về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự. Đề nghị HĐXX xử phạt bị cáo Võ Ngọc H từ 06 tháng đến 09 tháng tù.
Bị cáo tự bào chữa: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, không bào chữa.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Q, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Võ Ngọc H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng số 125/CT-VKSQN ngày 29/10/2020 của Viện kiểm sát nhân dân TP. Q đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Ngày 28.4.2020 và 30.4.2020, bị cáo Võ Ngọc H đã có hành vi lén lút, chiếm đoạt tài sản của bà Nguyễn Thị N chiếc xe đạp điện hiệu HITASA và chị Nguyễn Thị Cẩm T một chiếc xe đạp điện hiệu Exciter GP. Theo kết quả của hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự Tp Q, kết luận: Xe đạp điện hiệu Exciter GP màu đỏ, đen, đã qua sử dụng, có giá 4.000.000 đồng; Xe đạp điện hiệu HITASA màu vàng, đã qua sử dụng, có giá 1.500.000 đồng, tổng giá trị tài sản mà bị cáo chiếm đoạt của các bị hại là 5.500.000 đồng. Vì vậy hành vi của bị cáo Võ Ngọc H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân thành phố Q đã truy tố đối với bị cáo là có cơ sở và đúng theo quy định pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, trị an ở địa phương, bị cáo có N thân xấu nên cần phải xử lý nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục riêng đối với bị cáo, răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội.
Tuy nhiên cũng xem xét: Trong quá trình điều tra, tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, bị cáo tác động cho gia đình bồi thường cho bị hại để khắc phục hậu quả, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự nên xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo an tâm cải tạo sớm tái hòa nhập với cộng đồng.
Về bồi thường thiệt hại:
- Bị hại Nguyễn Thị N đã nhận lại chiếc xe đạp điện bị chiếm đoạt, gia đình bị cáo H cũng đã bồi thường cho chị Tiên 4.000.000 đồng, các bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm nên HĐXX không xem xét.
- Bà Phương Thị D, mua 01 bình điện và 01 chiếc xe đạp điện (không có bình điện) từ bị cáo đã chiếm đoạt của bà Nguyễn Thị N với giá 400.000 đồng. Tài sản đã thu giữ và trả lại cho bị hại. Tuy nhiên bà Phương Thị D không yêu cầu bị cáo bồi thường, do đó HĐXX không xem xét giải quyết.
Về án phí: Bị cáo bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản” nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vấn đề khác: Đối với bà Phương Thị D, Nguyễn Thị M, Nguyễn Thị L có hành vi mua xe đạp điện, bình điện của xe đạp điện từ Võ Ngọc H, nhưng những người này không biết tài sản mà H bán là do trộm cắp mà có nên không xử lý hình sự là phù hợp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Võ Ngọc H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Võ Ngọc H 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi thi hành án.
2. Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Buộc bị cáo Võ Ngọc H phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
3. Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với Bị hại, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại địa phương nơi cư trú.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Định; - VKSND thành phố Q; - Chi cục THA Dân sự Tp Q; - CQ CSĐT CA Tp Q; - Đội ĐTTH CA Tp Q; - Đương sự; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ. | Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà Phan Minh Dũng |