vanban.org

Bản án 03/2021/HSST — Hình sự

TAND huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai Tuyên án 31/03/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Ksor Ng phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Ksor Ng: 07( bảy) tháng tù . Thời hạn tù tính từ ngày bắt chấp hành án. Về án phí: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "vụ án hình sự - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Ksor Ng phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ THIỆN
TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:03/2021/HSST
Ngày: 31/3/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

- - - - - - -

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ THIỆN TỈNH GIA LAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Ksor Jưh

- Các Hội thẩm nhân dân:

+ Ông Nay Ngun

+ Ông Chế Công Nghị

- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Bá Thới – Thư ký Toà án nhân dân huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai tham gia phiên toà: Ông Vi Văn Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 3 năm 2021, tại Hội Trường Ủy ban nhân dân xã Iapiar, huyện Phú Thiện xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 32/2020/HSST ngày 25 tháng 12 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2021/QĐXX-HS ngày 22 tháng 3 năm 2021, đối với bị cáo:

Ksor Ng, sinh năm 1989 tại Gia Lai; trú tại: Thôn Sô H A, xã Ia P , huyện Ph Th , tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa: Không đi học; dân tộc: Jrai; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông R’ Ô N , sinh năm 1969 và bà KSor H’Y , sinh năm 1962; Tiền án: 02 tiền án, Ngày 23/9/2014, bị Tòa án nhân dân huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai xử phạt 06 tháng tù về tội trộm cắp tài sản.

Ngày 20/7/2016, bị Tòa án nhân dân huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai xử phạt 04 năm tù về tội Trộm cắp tài sản và được xác định là “tái phạm” trong bản án.

Tiền sự: Không. Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam đang được tại ngoại, có mặt.

Những người tham gia tố tụng:

- Người bào chữa cho hai bị cáo : Bà Bùi Thị Phượng – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước số 01 tỉnh Gia Lai. Có mặt.

- Bị hại:

Nguyễn Thị Nh , sinh năm 1970

Trú tại: Thôn Plei G , xã Ia P , huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai. Có mặt

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Nguyễn Thị Hồng L , sinh năm 1992

Trú tại: Thôn Plei G , xã Ia P , huyện Phú Th , tỉnh Gia Lai. Có mặt

Siu S , sinh năm 1994

Trú tại: Thôn Plei G , xã Ia P , huyện Ph Th , tỉnh Gia Lai. Vắng mặt

Siu H’Ng , sinh năm 1989

Trú tại: Thôn Plei G , xã Ia P , huyện Ph Th , tỉnh Gia Lai.

- Người phiên dịch: Ông Nay Quý- Cán bộ xã IaP , huyện Ph Th . Có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án

được tóm tắt như sau:

Chiều tối ngày 21/10/2020, Ksor Ng, sinh năm 1989 (trú tại Thôn Sô H A, Ia P , Phú Th , Gia Lai) đến nhà Siu S , sinh năm 1994 ở Thôn Plei Gok S đi chơi ngang qua nhà chị Nguyễn Thị Nh , sinh năm 1970 (trú cùng Thôn Pl G ) và thấy nhà chị Nh chốt cửa đi ngủ, trước hiên nhà có để nhiều bao lúa. Thấy vậy, S lên tiếng rủ Ng đột nhập trộm lúa bán lấy tiền tiêu xài và được Ng đồng ý. Sau đó, Ng trèo qua hàng rào phía trước nhà đột nhập vào bên trong, còn S đứng ngoài cảnh giới. Tại đây, Ng vác lần lượt được 02 bao lúa Nếp mang ra phía hàng rào để S giúp chuyển bao lúa ra bên ngoài. Lấy được 02 bao lúa ra ngoài, S đi về nhà lấy 01 xe lôi loại hai bánh của gia đình đến rồi cùng Ng bỏ lúa lên xe đẩy đi tìm nơi bán lúa. Khoảng 20h30’ cùng ngày, S và Ng mang lúa đến bán cho Nguyễn Thị Hồng L , sinh năm 1992 ở Thôn Pl G , Ia Piar, Phú Thiện, Gia Lai được 400.000 đồng, sau đó cả hai chia nhau tiêu xài cá nhân hết. Khi mua lúa, chị Loan không biết đó là tài sản do S và Ng trộm cắp có được.

Cơ quan CSĐT Công an huyện Phú Thiện đã tiến hành kiểm tra, xác minh và xác định được Ksor Ng và Siu S là người đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nhà chị Nguyễn Thị Nh . Tại Cơ quan điều tra, Ng và S đã thừa nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản. Cơ quan điều tra cũng tiến hành tạm giữ 02 bao lúa Nếp có tổng trọng lượng 101kg do Nguyễn Thị Hồng L giao nộp và 01 xe lôi loại hai bánh do Siu S giao nộp.

Cơ quan điều tra đã tiến hành yêu cầu định giá đối với số tài sản bị trộm cắp, là 101kg lúa (loại lúa Nếp). Tại Kết luận định giá tài sản số 20 ngày 10/11/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Phú Thiện, tinh Gia Lai, xác định: Tổng trị giá tài sản tại thời điểm định giá là 626.200 đồng (Sáu trăm hai mưới sáu nghìn hai trăm đồng).

Quá trình điều tra xác định được, tại thời điểm thực hiện hành vi trộm cắp, Ksor Ng đang có 02 tiền án về tội Trộm cắp tài sản chưa được xóa án tích (tại Bản án HSST số 28 ngày 23/09/2014 của Tòa án nhân dân huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai và Bản án HSST số 21 ngày 20/7/2016 của Tòa án nhân dân huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai).

Ngày 17/11/2020, Cơ quan CSĐT Công an huyện Phú Thiện, Gia Lai đã Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Ksor Ng về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Cơ quan điều tra cũng ra Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị can. Quá trình điều tra, bị can Ksor Ng thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, nội dung lời khai phù hợp với lời khai bị hại, người liên quan và tài liệu, chứng cứ do Cơ quan điều tra thu thập được.

Đối với Siu S , là người tham gia cùng Ksor Ng thực hiện hành vi phạm tội. Tuy nhiên, giá trị tài sản trộm cắp trong vụ án chưa cấu thành tội phạm nên Cơ quan điều tra chuyển Công an huyện Phú Thiện xử phạt vi phạm hành chính đối với Siu S đúng quy định pháp luật.

Đối với Nguyễn Thị Hồng L , là người mua tài sản do bị can Ksor Ng trộm cắp có được trong vụ án. Tuy nhiên khi mua, Loan không biết đó là tài sản trộm cắp nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý.

* Về vật chứng của vụ án:

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã trả lại toàn bộ 02 bao lúa Nếp có tổng trọng lượng 101kg và 01 xe lôi loại hai bánh cho chủ sở hữu. Xét thấy việc trả lại là đúng theo quy định của pháp luật.

* Về dân sự:

Quá trình điều tra, chị Nguyễn Thị Nh , Chị Nguyễn Thị Hồng L đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì thêm nên không xét.

Tại bản Cáo trạng số 01/CT/VKS-PT ngày 22 tháng 12 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai truy tố bị cáo Ksor Ng về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự;

Tại phiên tòa KSV đề nghị: Căn cứ khoản 1 Điều 173; các điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Ksor Ng từ 07 tháng đến 10 tháng tù giam; Buộc bị cáo chịu 200,000đồng án phí hình sự.

Người bào chữa bà Bùi Thị Phượng nhất trí tội danh, điều luật và tình tiết giảm nhẹ mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng. Tuy nhiên người bào chữa đề nghị cần xem xét thêm cho bị cáo về các tình tiết giảm nhẹ, cụ thể: “ Tự nghuyện khắc phục hậu quả”, “phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn” quy định tại điểm b, h khoản 1điều 51 BLHS. Đề nghị HĐXX áp dụng điểm b, h ,s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự và xử phạt bị cáo dưới mức mà VKS đề nghị.

Quá trình tiến hành đối đáp, tranh luận đại diện viện kiểm sát và người bào chữa đều giữ nguyên quan điểm đã đề nghị.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra công an huyện Phú Thiện, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Thiện, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra,truy tố và tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện hợp pháp.

. Về căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo: Khoảng 20h 00 phút ngày 21/10/2020, phát hiện nhà chị Nguyễn Thị Nh ở thôn Plei Gok, xã Ia Piar, huyện Phú Thiện có chất nhiều bao lúa trước hiên nhà không có người trông coi, vậy bị cáo đã đột nhập trèo qua tường rào nhà bà Nhị vào bên trong, bị cáo vác lần lượt được 02 bao lúa Nếp đưa cho Siu S đứng ở ngoài vận chuyển ra bên ngoài, sau đó bị cáo và Siu S đem lúa trộm cắp được đi bán cho bà Nguyễn Thị Hồng L được 400.000đồng.

Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại, lời khai người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và các chứng cứ, tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án. Giá trị tài sản mà bị cáo Ksor Ng trộm cắp lần này là 02 bao lúa Nếp được định giá có trị giá 626.200đồng, tuy nhiên trước đây bị cáo đã bị kết tội bằng hai bản án có hiệu lực pháp luật (Ngày 23/9/2014, bị Tòa án nhân dân huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai xử phạt 06 tháng tù về tội trộm cắp tài sản và Ngày 20/7/2016, bị Tòa án nhân dân huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai xử phạt 04 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”), chấp hành xong hình phạt tù chưa được xóa án tích mà tiếp tục phạm tội mới . Do đó, hành vi của bị cáo Ksor Ng đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Xét Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai đã truy tố các bị cáo theo tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Bị cáo là người đã thành niên, nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản của người khác sẽ bị pháp luật trừng trị nhưng đã bất chấp pháp luật, lợi dụng đêm tối, sự sơ hở của chủ sở hữu tài sản đã chiếm đoạt tài sản của người khác. Hành vi đó gây bất bình trong quần chúng nhân dân, đồng thời làm mất trật tự trị an tại địa phương. Do vậy cần thiết xử phạt bị cáo nghiêm khắc phù hợp với tính chất mức độ hành vi của bị cáo gây ra và cần thiết buộc bị cáo chấp hành hình phạt tù một thời gian mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội.

Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Xét thấy bị cáo có nhân thân xấu, đã từng xử lý hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo “thành khẩn khai báo”. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Đối với hành vi của Siu S là người tham gia cùng Ksor Ng thực hiện hành vi phạm tội. Tuy nhiên, giá trị tài sản trộm cắp trong vụ án chưa cấu thành tội phạm nên Cơ quan Công an huyện Phú Thiện xử phạt hành chính là đúng pháp luật.

Đối với bà Nguyễn Thị Hồng L khi mua không biết đó là tài sản trộm cắp mà có nên không xử lý là có căn cứ.

. Về vật chứng vụ án: 02 bao lúa và 01 xe lôi đã được xử lý trao trả cho chủ sở hữu tài sản đúng pháp luật nên không xem xét

. Về dân sự: Quá trình điều tra đã được trả lại tài sản cho bị hại, bị hại không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

. Về án phí: Bị cáo Ksor Ng phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Ksor Ng phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 173; các điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Ksor Ng: 07( bảy) tháng tù . Thời hạn tù tính từ ngày bắt chấp hành án.

2. Về án phí:

- Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a, khoản 1, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Buộc bị cáo Ksor Ng phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

3. Quyền kháng cáo:

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 31/3/2021,bị cáo; bị hại người có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai giải quyết theo thủ tục phúc thẩm. Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định Điều 2 Luật thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ