vanban.org

Bản án 03/2021/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Long Xuyên, tỉnh An Giang Tuyên án 06/01/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Dương Văn Tr(Bé Lớn), Đặng Ngọc L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

[1] Xử phạt: Bị cáo Dương Văn Tr(Bé Lớn) 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 07/7/2020. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Dương Văn Trí và đồng phạm phạm tội "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Dương Văn Tr(Bé Lớn), Đặng Ngọc L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ LONG XUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 03/2021/HS-ST
Ngày : 06 - 01 - 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Dung

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Thanh Việt

2. Ông Lê Thành Thật

Thư ký phiên toà: Ông Trần Ngọc Ký, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Lê Hoàng Phú Sang, Kiểm sát viên.

Trong ngày 06 tháng 01 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 135/2020/HSST ngày 26 tháng 11 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 141/2020/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 12 năm 2020 và Thông báo dời thời gian xét xử ngày 17 tháng 12 năm 2020, đối với các bị cáo:

1. Dương Văn Tr(Bé Lớn), sinh năm: 1977 tại thành phố Biên Hòa, tỉnh Đ N; Nơi cư trú: Tổ 9, khu phố Tân Cang, phường Phước T, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đ N; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Đạo Công giáo; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 01/12; Cha: Dương Văn Thành, sinh năm: 1947; Mẹ: Bùi Thị Liễn, sinh năm: 1952; Có 05 anh em, bị cáo thứ hai; Vợ: Huỳnh Thị Thái Hòa, sinh năm: 1978 (đã ly hôn); Có 02 con, lớn sinh năm 1999, nhỏ sinh năm 2004.

Nhân thân: Nhỏ đến lớn sống chung với cha mẹ, đi học hết lớp 01 thì nghỉ. Ngày 24 tháng 12 năm 2002, bị Tòa án quân sự Khu vực 2 – Quân khu 7 xử phạt 18 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, đến ngày 18 tháng 8 năm 2003 chấp hành xong bản án. Ngày 16 tháng 6 năm 2006, bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đ N xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” và tổng hợp với hình phạt của bản án số 06/HSST ngày 23 tháng 02 năm 2006 của Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, hình phạt chung là 03 năm tù, đến ngày 01 tháng 02 năm 2008 chấp hành xong bản án. Ngày 02 tháng 3 năm 2012, bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đ N xử phạt 04 năm tù về tội “Gá bạc”, đến ngày 29 tháng 8 năm 2014 chấp hành xong bản án.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 07/7/2020 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ, trong vụ án khác.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Đặng Ngọc L, sinh năm: 1985 tại thành phố Biên Hòa, tỉnh Đ N; Nơi cư trú: Tổ 8, khu phố Hương Phước, phường Phước T, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đ N; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Đạo Phật; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 6/12; Cha: Đặng Ngọc Lâm, sinh năm 1960; Mẹ: Huỳnh Thị Ngọc Anh, sinh năm 1958; Có 05 anh chị em, bị cáo thứ năm; Vợ: Nguyễn Thị Kim Loan, sinh năm 1983; Có 02 con, lớn sinh năm 2013, nhỏ sinh năm 2016.

Nhân thân: Nhỏ đến lớn sống chung với cha mẹ, đi học đến lớp 06 thì nghỉ. Ngày 08 tháng 9 năm 2005, bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đ N xử phạt 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đến ngày 16 tháng 01 năm 2006 chấp hành xong bản án. Ngày 15 tháng 3 năm 2007, bị Tòa án nhân dân tỉnh Đ N xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”, đến ngày 30 tháng 6 năm 2009 chấp hành xong bản án.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 07 tháng 7 năm 2020 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ, trong vụ án khác.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Ông Nguyễn Quốc H, sinh năm 1958; Địa chỉ: Số 38/126/40, khóm Thới An, phường Mỹ Thạnh, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang (vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Cẩm H1, sinh năm 1993; Địa chỉ: Số 38/126/40, khóm Thới An, phường Mỹ Thạnh, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 06 giờ ngày 06 tháng 7 năm 2020, Đặng Ngọc L điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Exciter biển số 68E1-275.64 chở Dương Văn Trtừ tỉnh Tiền Giang đến thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang với mục đích tìm tài sản để lấy trộm. Khi đi qua công trình xây dựng nhà trên đường Trần Văn Ơn, khóm Trung Hưng, phường Mỹ Thới thấy xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha màu trắng, biển số 67B2-387.58 của ông Nguyễn Quốc H dựng trên vỉa hè đối diện công trình nhưng không người trông giữ. Lợi dụng điều kiện này, Long dừng xe cho Trí đến dùng đoản bẻ khóa lấy trộm xe mô tô này điều khiển đến thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long. Trên đường đi, Trí dừng lại tháo biển số 67B2-387.58 thay vào biển số 59G2-519.56, sau đó điều khiển xe đến gửi tại khu vực giữ xe của Bệnh viện Triều An - Loan Trâm, thành phố Vĩnh Long.

Với thủ đoạn như trên, ngày 07 tháng 7 năm 2020 Long và Trí tiếp tục lấy trộm xe mô tô tại quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Cái Răng bắt giữ. Đến ngày 02 tháng 10 năm 2020 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Cái Răng thông báo cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Long Xuyên biết vụ việc trên và chuyển giao vật chứng thu giữ gồm:

- 01 xe mô tô mang biển số 67B2-387.58, số khung 216486, số máy 1075047;

- 01 biển số 59G2-519.58, 01 thẻ giữ xe bệnh viện Triều An – Loan Trâm.

* Kết luận về việc định giá tài sản số 214/KL.HĐ ngày 03 tháng 10 năm 2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Long Xuyên, xác định: xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, biển số 67B2-387.58, số khung 216486, số máy 1075047, trị giá 16.897.500 đồng.

* Phiếu trả lời xác minh phương tiện giao thông cơ giới đường bộ ngày 13/8/2020, ngày 06/11/2020 của Phòng Cảnh sát giao thông đường bộ Công an tỉnh An Giang, xác định:

- Xe mô tô biển số 67B2-387.58, số khung 216486, số máy 1075047, chủ xe Nguyễn Thị Cẩm H1;

- Xe mô tô biển số 59G2-519.56, số khung 220373, số máy 0240370, chủ xe Phạm Thị Thúy.

Tại bản cáo trạng số 130/CT-VKS ngày 17/11/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang đã truy tố bị cáo Dương Văn Tr(Bé Lớn) và Đặng Ngọc L về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo Dương Văn Trvà Đặng Ngọc L đã thừa nhận hành vi trộm cắp tài sản của ông Nguyễn Quốc H như nội dung vụ án đã nêu. Đồng thời, các bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, rất ăn năn, hối hận và mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa phát biểu lời luận tội đối với các bị cáo và giữ nguyên truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất của vụ án, hành vi phạm tội của các bị cáo, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo nên đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt:

- Bị cáo Dương Văn Tr(Bé Lớn) mức án từ 01 năm – 01 năm 06 tháng tù.

- Bị cáo Đặng Ngọc L mức án từ 09 tháng – 01 năm tù.

Cùng về tội “Trộm cắp tài sản”.

Về trách nhiệm dân sự: bị hại ông Nguyễn Quốc H đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường thiệt hại nên không đặt ra xem xét trong vụ án.

Về xử lý vật chứng: áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, xử lý vật chứng như sau: Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) biển số xe 59G2-519.56 và 01 (một) thẻ giữ xe No:0435 của bệnh viện Triều An

- Loan Trâm.

Bị hại ông Nguyễn Quốc H và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị Cẩm H1 (con ruột ông Hương) vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong quá trình điều tra đã có lời khai trình bày: việc ông mất trộm xe mô tô như nội dung vụ án đã nêu. Ông Hương đã nhận lại xe mô tô và không yêu cầu bồi thường thiệt hại.

Các bị cáo không tranh luận với Kiểm sát viên và nói lời nói sau cùng: các bị cáo rất ân hận về hành vi của mình, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tố tụng:

Mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ giấy triệu tập tham gia phiên tòa nhưng tại phiên tòa bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều vắng mặt không có lý do. Tuy nhiên, những người vắng mặt đã có lời khai trong hồ sơ vụ án nên việc vắng mặt của họ không gây cản trở cho việc xét xử. Do đó, căn cứ Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.

Về chứng cứ xác định hành vi phạm tội của các bị cáo:

Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với kết luận về việc xác định giá trị tài sản số 214/KL.HĐ ngày 03/10/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Long Xuyên; phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và phù hợp với vật chứng đã thu giữ cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Có đầy đủ căn cứ xác định: Ngày 06/7/2020, các bị cáo Dương Văn Trvà Đặng Ngọc L đã lợi dụng sơ hở, lét lút thực hiện hành vi lấy trộm 01 xe mô tô trị giá 16.897.500 đồng của bị hại ông Nguyễn Quốc H.

Căn cứ vào quy định của pháp luật thì hành vi của các bị cáo Dương Văn Trí, Đặng Ngọc L đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xét về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội thì thấy:

Quyền sở hữu về tài sản luôn được pháp luật bảo vệ, mọi hành vi xâm phạm đến tài sản của cá nhân, tổ chức sẽ được xử lý kịp thời, nghiêm minh.

Trong vụ án có nhiều bị cáo tham gia, cùng bàn bạc, phân công nhiệm vụ và thống nhất đi chiếm đoạt tài sản của bị hại. Trong đó, bị cáo Trí là người rủ rê và trực tiếp thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của bị hại nên bị cáo Trí có vai trò chủ mưu, cầm đầu và phải chịu mức án cao hơn bị cáo Long; còn bị cáo Long tham gia với vai trò đồng phạm giúp sức, cảnh giới cho bị cáo Trí thực hiện việc chiếm đoạt tài sản của bị hại nên mức án thấp hơn bị cáo Trí.

Các bị cáo là những thanh niên trưởng thành, khỏe mạnh và có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Lẽ ra, các bị cáo phải cần cù lao động, tu dưỡng rèn luyện đạo đức và tìm một công việc chân chính tạo thu nhập hợp pháp để trở thành công dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội. Nhưng ngược lại, chỉ vì bản tính tham lam, lười lao động, muốn nhanh chóng có tiền tiêu xài và thỏa mãn nhu cầu cá nhân mà không phải tốn nhiều công sức lao động nên các bị cáo đã cố ý bàn bạc, phân công nhau thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Xét về nhân thân các bị cáo thì thấy, mặc dù đã được xóa án tích nhưng bản thân các bị cáo trước đây đều có tiền án về tội trộm cắp tài sản nên hơn ai hết các bị cáo nhận thức rất rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác một cách trái pháp luật sẽ bị xử lý nghiêm minh. Hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của bị hại, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Do đó, cần phải có hình phạt tương xứng mới đủ tác dụng giáo dục, cải tạo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Về tính tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo:

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo tỏ rõ thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.

.

Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự nên Hội đồng xét xử có xem xét cho các bị cáo khi quyết định hình phạt.

Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo hoàn cảnh kinh tế khó khăn và thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại Nguyễn Quốc H đã nhận lại tài sản, không yêu cầu các bị cáo bồi thường thiệt hại nên Hội đồng xét xử ghi nhận và không đặt ra xem xét trong vụ án.

Về vật chứng: Quá trình điều tra thu giữ những vật chứng cần phân hóa xử lý như sau:

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) biển số xe 59G2-519.56 và 01 (một) thẻ giữ xe No:0435 của bệnh viện Triều An – Loan Trâm.

(Theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 26/11/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang).

Về phần án phí và quyền kháng cáo: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Dương Văn Tr(Bé Lớn), Đặng Ngọc L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106, Điều 135, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Tuyên xử:

[1] Xử phạt:

Bị cáo Dương Văn Tr(Bé Lớn) 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 07/7/2020.

Bị cáo Đặng Ngọc L 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 07/7/2020.

[2] Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) biển số xe 59G2-519.56 và 01 (một) thẻ giữ xe No:0435 của bệnh viện Triều An – Loan Trâm.

(Theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 26/11/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang).

[3] Về án phí: Buộc các bị cáo mỗi người phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

[4] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ