vanban.org

Bản án 03/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên Tuyên án 27/01/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Huỳnh Văn T phạm tội: Vi phạm chế độ một vợ, một chồng.

Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn T 01 (một) năm cải tạo không giam giữ, thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan, tổ chức giám sát giáo dục nhận được bản án có hiệu lực pháp luật. Giao bị cáo Huỳnh Văn T cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian cả… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Huỳnh Văn T - vi phạm chế độ một vợ một chồng - phạm tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng (điều 182 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BL…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Huỳnh Văn T phạm tội: Vi phạm chế độ một vợ, một chồng.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 182 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂY HÒA
TỈNH PHÚ YÊN
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2021/HS-ST
Ngày: 27-01-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Vinh

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lương Tấn Nghị

Ông Tạ Hồng Hà.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lam – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Kim Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 01 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 28/2020/TLST-HS ngày 31 tháng 12 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2021/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 01 năm 2021 đối với bị cáo:

Huỳnh Văn T, sinh năm 1995, tại xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên. Nơi cư trú: Thôn M, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên; nghề nghiệp: làm nông; trình độ văn hoá (học vấn) 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; không theo tôn giáo; quốc tịch: Việt Nam; con bà Huỳnh Thị M, sinh năm 1968, không xác định được cha; có vợ là Thạch Thị Ngọc B, sinh năm 2001; có 02 con sinh năm 2016 và 2020; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ Bà Phan Thị Mỹ T, sinh năm 1997; nơi cư trú: Thôn M, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên. Có mặt.

2/ Bà Thạch Thị Ngọc B, sinh năm 2001; nơi cư trú: Thôn M, xã H, huyện T. Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt.

3/ Bà Huỳnh Thị M, sinh năm 1968; nơi cư trú: Thôn M, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt.

4/ Ông Huỳnh Văn H, sinh năm 1981; nơi cư trú: Thôn V, xã H1, huyện T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt

5/ Ông Thạch V, sinh năm 1975; nơi cư trú: Ấp X, xã Đ, huyện T, tỉnh Trà Vinh. Vắng mặt không có lý do.

6/ Bà Dương Thị M, sinh năm 1964; nơi cư trú: Ấp Ấp X, xã Đ, huyện Tú, tỉnh Trà Vinh. Vắng mặt không có lý do.

- Người làm chứng:

1/ Bà Huỳnh Thị T, sinh năm 1988; nơi cư trú: Thôn M, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên.

2/ Bà Thạch Thị Ngọc H, sinh năm 2004; nơi cư trú: Ấp Ấp X, xã Đ, huyện T, tỉnh Trà Vinh.

Đều vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Huỳnh Văn T và bà Phan Thị Mỹ T tự nguyện kết hôn với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên vào ngày 06/11/2015. Do thường xuyên xảy ra mâu thuẫn vợ chồng nên bị cáo T và bà T ly thân và đi làm ăn ở nơi khác. Đến khoảng tháng 4 năm 2018, T có quan hệ tình cảm và chung sống như vợ chồng với Thạch Thị Ngọc B. Sau đó, B mang thai với T. T không cho B biết mình đã có vợ con và vẫn đề nghị tổ chức lễ cưới với B. Ngày 27/10/2019, Huỳnh Văn T và Thạch Thị Ngọc B tổ chức lễ cưới tại nhà B ở tỉnh Trà Vinh. Ngày 19/11/2019, Huỳnh Văn T có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Tây Hòa giải quyết việc ly hôn với Phan Thị Mỹ T. Vì biết Tài đã cưới vợ khác và đã có con riêng nên T đồng ý ly hôn và được Tòa án nhân dân huyện Tây Hòa chấp nhận cho ly hôn tại bản án số 03/2020/HNGĐ-ST ngày 10/01/2020.

Tại Cáo trạng số 03/CT-VKSTH ngày 30/12/2020, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Hòa truy tố bị cáo Huỳnh Văn T về tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng theo điểm a khoản 1 Điều 182 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

- Bị cáo đồng ý với cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Hòa, bị cáo thành khẩn khai báo và thừa nhận hành vi phạm tội của mình; bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – bà Phan Thị Mỹ T không có yêu cầu bồi thường gì; đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Kiểm sát viên luận tội giữ nguyên cáo trạng truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng; áp dụng điểm a khoản 1 Điều 182; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo từ 6 tháng đến 9 tháng cải tạo không giam giữ, giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian cải tạo không giam giữ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Quá trình tiến hành tố tụng, các hoạt động tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát thực hành quyền công tố, Kiểm sát viên thực hiện đúng theo quy định Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa cũng như trong quá trình điều tra, truy tố, bị cáo khai nhận tội như nội dung Cáo trạng truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về toàn bộ diễn biến quá trình thực hiện tội phạm. Vì vậy có đủ cơ sở kết luận: Huỳnh Văn T là người đang có vợ hợp pháp là Phan Thị Mỹ T nhưng từ tháng 4 năm 2018, Huỳnh Văn T đã chung sống như vợ chồng với Thạch Thị Ngọc B. Đến ngày 27/10/2019, T và B tổ chức lễ cưới công khai. Hậu quả, Huỳnh Văn T và Phan Thị Mỹ T ly hôn vào ngày 10/01/2020. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội vi phạm chế độ một vợ một chồng quy định tại điểm a khoản 1 Điều 182 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Hòa truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Tại thời điểm phạm tội, bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ hôn nhân một vợ một chồng – là một truyền thống tốt đẹp của dân tộc được pháp luật thừa nhận và bảo vệ; hành vi của bị cáo còn thể hiện thái độ coi thường pháp luật, coi thường đạo đức xã hội. Xét bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly ra khỏi xã hội, Tòa án chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo, việc áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ cũng đủ để đảm bảo tác dụng, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, cần áp dụng mức hình phạt cao hơn mức đề nghị của Kiểm sát viên mới tương xứng tính chất, mức độ hành vi phạm tội. Do bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên không có căn cứ xác định mức thu nhập để thực hiện việc khấu trừ hàng tháng.

Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Hội đồng xét xử xem xét áp dụng cho bị cáo khi lượng hình.

Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 182; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Huỳnh Văn T phạm tội: Vi phạm chế độ một vợ, một chồng.

Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn T 01 (một) năm cải tạo không giam giữ, thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan, tổ chức giám sát giáo dục nhận được bản án có hiệu lực pháp luật.

Giao bị cáo Huỳnh Văn T cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã trong việc giám sát giáo dục bị cáo. Miễn việc khấu trừ thu nhập đối với bị cáo trong thời gian chấp hành án.

Về án phí: Căn cứ các Điều 23; mục A danh mục án phí lệ phí Tòa án được ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội. Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Cỡ chữ