- Tranh chấp gì? án hình sự — "CAO VĂN H, sinh năm 1987 tại Huyện P, tỉnh Thái Nguyên, tên gọi khác: không. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Xóm P, xã L, Huyện P, tỉnh Thái Nguyên phạ…"
- Tòa quyết gì? ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 03/2021/HS-ST Ngày: 12 - 01 - 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Giang
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông: Hoàng Văn Đường
Ông: Nguyễn Văn Gia
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Giáp - Thư ký Tòa án nhân dân
Huyện P, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện P, tỉnh Thái Nguyên tham
gia phiên tòa: Ông Bùi Việt Hưng - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 01 năm 2021, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân
Huyện P, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 140/2020/TLST-HS, ngày 18/12/2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 146/2020/QĐXXST-HS ngày 31/12/2020, đối với bị cáo:
Họ và tên: CAO VĂN H, sinh năm 1987 tại Huyện P, tỉnh Thái Nguyên,
tên gọi khác: không. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Xóm P, xã L, Huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hoá: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Cao Văn B và bà: Thân Thị H. Có vợ: Hoàng Thị H (Đã ly hôn) và có 01 con, sinh năm 2012. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/9/2020 cho đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an Huyện P, tỉnh Thái Nguyên.
(Có mặt tại phiên tòa).
- Người chứng kiến:
1. Anh Ngọ Văn K, sinh năm 1979.
Nơi thường trú: Tổ 1, thị trấn H, Huyện P, tỉnh Thái Nguyên.
(Vắng mặt tại phiên tòa).
2. Anh Nguyễn Văn S, sinh năm 1976.
Nơi thường trú: Tổ Đ, thị trấn H, Huyện P, tỉnh Thái Nguyên.
(Vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại
phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 03 giờ 35 phút ngày 25/9/2020, Công an Huyện P đang làm
nhiệm vụ tại khu vực nhà nghỉ Long Lý thuộc Tổ 1, thị trấn H, Huyện P phát hiện bắt quả tang CAO VĂN H đang có hàng vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Công an đã thu giữ: 10 ống nhựa hàn kín hai đầu, trong đó có 07 ống nhựa màu xanh bên trong mỗi ống đều chứa 2 viên nén màu đỏ hồng, 03 ống nhựa màu tím mỗi ống đều chứa 2 viên nén màu đỏ hồng đều có in chữ WY (niêm phong ký hiệu X1); 05 ống nhựa màu hồng bên trong mỗi ống đều chứa chất tinh thể dạng đá, 01 ống nhựa màu vàng bên trong chứa chất tinh thể dạng đá màu trắng và 01 túi nilon màu trắng chứa chất tinh thể dạng đá màu trắng (niêm phong ký hiệu X2); 02 gói giấy bạc màu vàng bên trong chứa chất bột dạng cục màu trắng (niêm phong ký hiệu X3) và 01 điện thoại di động nhãn hiệu HTC màu trắng bạc (niêm phong ký hiệu X4). H khai là ma túy tổng hợp và heroine của H. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với H, thu giữ, niêm phong vật chứng theo quy định và đưa H về trụ sở Công an Huyện P để điều tra làm rõ.
Cùng ngày, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Huyện P tiến hành mở
niêm phong cân xác định khối lượng số viên nén màu hồng, chất tinh thể dạng đá màu trắng và chất bột dang cục màu trắng gửi giám định.
Hồi 14 giờ 30 phút ngày 25/9/2020, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an
Huyện P tiến hành khám xét khẩn cấp đối với đồ vật, nhà ở, khu vực xung quanh nhà ở của CAO VĂN H. Kết quả không phát hiện, thu giữ được gì liên quan đến vụ án.
Tại bản Kết luận giám định số 1246/KL-KTHS ngày 02/10/2020 của
Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận:
- Mẫu các viên nén màu đỏ hồng, một mặt có chữ WY trong phong bì
ký hiệu Y1 gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 2,190 gam.
- Mẫu tinh thể dạng đá màu trắng trong phong bì ký hiệu Y2 gửi giám
định là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 1,296 gam.
- Mẫu chất bột dạng cục màu trắng trong phong bì ký hiệu Y3 gửi giám
định là chất ma túy, loại Heroine, khối lượng: 0,311 gam.
Tại Cơ quan điều tra, CAO VĂN H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm
tội của mình như sau: Khoảng 22 giờ ngày 24/9/2020, H đi bộ một mình từ nhà đến khu vực ngã tư Cầu Ca, xã Kha Sơn để tìm mua ma túy về sử dụng cho bản thân. Tại đây, H gặp và mua của một người đàn ông không quen biết số ma túy gồm: 10 ống nhựa hàn kín hai đầu, trong đó có 07 ống nhựa màu xanh bên trong mỗi ống đều chứa 2 viên nén màu đỏ hồng, 03 ống nhựa màu tím mỗi ống đều chứa 2 viên nén màu đỏ hồng đều có in chữ WY; 05 ống nhựa màu hồng bên trong mỗi ống đều chứa chất tinh thể dạng đá, 01 ống nhựa màu vàng bên trong
2
chứa chất tinh thể dạng đá màu trắng và 01 túi nilon màu trắng chứa chất tinh thể dạng đá màu trắng; 02 gói giấy bạc màu vàng bên trong chứa chất bột dạng cục màu trắng với giá 2.300.000 đồng. Mua xong, H cất ma túy vào túi quần bên phải phía trước đang mặc rồi đi đến nhà nghỉ Long Lý thuộc khu vực Tổ 1, thị trấn H, Huyện P để tìm nơi sử dụng nhưng chưa kịp sử dụng thì bị tổ công tác Công an Huyện P phát hiện, bắt quả tang như nêu trên. Tại phiên tòa, bị cáo CAO VĂN H khai nhận rõ hành vi phạm tội của mình.
Bản cáo trạng số 09/CT-VKSPB, ngày 18/12/2020 của Viện kiểm sát
nhân dân Huyện P, tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo CAO VĂN H về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm, trong phần tranh luận, vị đại diện Viện Kiểm sát
nhân dân Huyện P đã trình bày lời luận tội và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố: Bị cáo CAO VĂN H phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma
túy”. Áp dụng: Điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo CAO VĂN H từ 36 đến 42 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo; về xử lý vật chứng cần tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định, trả lại cho bị cáo H chiếc điện thoại di động do không liên quan đến hành vi phạm tội và xem xét miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo do gia đình bị cáo thuộc diện hộ nghèo; bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định.
Trong phần tranh luận, bị cáo thừa nhận việc truy tố, xét xử là không
oan, đúng người, đúng tội. Lời nói sau cùng bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Huyện
P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Huyện P, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo đã khai nhận toàn bộ
hành vi phạm tội như đã nêu trên. Bị cáo thừa nhận do nghiện ma tuý nên đã đi mua ma tuý về để sử dụng cho bản thân không bán lại cho ai, không nhằm mục đích gì khác. Lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản mở niêm phong, cân xác định khối lượng ma túy, kết luận giám
3
định, phù hợp với lời khai người tham gia tố tụng khác và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định:
Hồi 03 giờ 35 phút ngày 25/9/2020 tại khu vực nhà nghỉ Long Lý thuộc
Tổ 1, thị trấn H, Huyện P, tỉnh Thái Nguyên, CAO VĂN H là người nghiện chất ma túy đã có hành vi tàng trữ 3,486 gam ma túy Methamphetamine và 0,311 gam ma túy Heroine nhằm mục đích để sử dụng cho bản thân, nhưng chưa kịp sử dụng thì bị tổ công tác Công an Huyện P, tỉnh Thái Nguyên phát hiện bắt quả tang, thu giữ cùng vật chứng.
Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma
tuý, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân Huyện P, tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật viện dẫn nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Điều 249 của Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma tuý mà không nhằm mục đích
mua bán, vận cHển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
…
c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc
XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
...
i) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các
chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h khoản này;
...
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến
500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản".
Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các
tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy
hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý và sử dụng các chất gây nghiện, gây mất trật tự trị an ở địa phương, là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm khác.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn
năn hối cải. Vì vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào được quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự.
Về nhân thân, bị cáo nghiện ma tuý. Bản thân bị cáo nhận thức đầy đủ
được tác hại của ma tuý nhưng không từ bỏ được mà lại lao vào con đường
4
phạm tội. Xét thấy, cần có một mức án tương xứng với tội trạng mà bị cáo gây ra và cần cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội đồng thời nhằm giáo dục riêng và răn đe phòng ngừa tội phạm chung.
[4] Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ
sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên tòa, xét thấy bị cáo là đối tượng nghiện ma tuý, không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều
106 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử xử lý vật chứng như sau:
Đối với vật chứng là: 02 (hai) bì niêm phong còn nguyên vẹn ký hiệu
Y1, Y2 bên trong có chứa ma túy Methamphetamine hoàn lại sau giám định và 01 (một) bì niêm phong còn nguyên vẹn ký hiệu Y3 bên trong có chứa ma túy Heroine hoàn lại sau giám định cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với vật chứng là: 01 (một) bì niêm phong còn nguyên vẹn ký hiệu
B1 bên trong là 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu HTC màu trắng bạc, đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo H, xác định không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo quản lý, sử dụng.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát trong lời luận tội đối với bị
cáo như đề nghị về tội danh, điều luật áp dụng, xử lý vật chứng là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật cần chấp nhận.
Về tạm giam bị cáo sau khi tuyên án: Căn cứ vào Điều 329 của Bộ
luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử ra Quyết định tạm giam bị cáo CAO VĂN H với thời hạn 45 (Bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.
Về nguồn gốc số ma túy: H khai mua ma túy của một người đàn ông
không quen biết tại khu vực Cầu Ca, xã Kha Sơn, Huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Quá trình điều tra không xác định được nhân thân, lai lịch của người này nên cơ quan Cảnh sát điều tra không có căn cứ để mở rộng điều tra vụ án.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Do gia đình bị cáo thuộc diện hộ nghèo
nên miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy
định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38;
Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy
5
ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo CAO VĂN H phạm tội “Tàng trữ trái
phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt chính: Xử phạt CAO VĂN H 36 (Ba mươi sáu) tháng tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 25/9/2020.
3. Về tạm giam bị cáo sau khi tuyên án: Quyết định tạm giam bị cáo
CAO VĂN H với thời hạn 45 (Bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.
4. Về xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy: 02 (hai) bì niêm phong còn nguyên vẹn ký hiệu Y1,
Y2 bên trong có chứa ma túy Methamphetamine hoàn lại sau giám định và 01 (một) bì niêm phong còn nguyên vẹn ký hiệu Y3 bên trong có chứa ma túy Heroine hoàn lại sau giám định.
Trả lại cho bị cáo CAO VĂN H: 01 (một) bì niêm phong còn nguyên vẹn
ký hiệu B1 bên trong là 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu HTC màu trắng bạc, đã qua sử dụng.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 05/01/2020 giữa Công an
Huyện P và Chi cục Thi hành án dân sự Huyện P).
5. Về án phí hình sự sơ thẩm: Miễn án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo
CAO VĂN H.
6. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai có mặt bị cáo CAO VĂN H,
báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Thái Nguyên; - VKS ND tỉnh Thái Nguyên; - VKS ND Huyện P; - Cơ quan điều tra CA Huyện P; - CQTHAHS Công an Huyện P; - Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Nguyên; - Chi cục T.H.A DS Huyện P; - Bị cáo; - Sở Tư pháp tỉnh Thái Nguyên; - Lưu: HS, VP, T.H.A HS./. 6 | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Giang |