vanban.org

Bản án 03/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Mỹ Đức, TP. Hà Nội Tuyên án 07/01/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Phúc T phạm tội “” ớp tài sản” và tội “Trộm cắp tài sản”.

Về trách nhiệm dân sự: ăn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự buộc bị cáo Nguyễn Phúc T phải bồi th ờng cho chị Nguyễn Thị T số tiền là 2.200.000 đồng. Về vật chứng: ăn cứ Điều 47 ộ uật ình sự; Điều 106 ộ uật Tố tụng ình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án hình sự Nguyễn Phúc T - phạm tội cướp tài sản (điều 168 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Phúc T phạm tội “” ớp tài sản” và tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 168 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN M – TP H N I

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2021/HS-ST
Ngày 07 tháng 01 năm 2021

NHÂN DANH

NƯỚC C NG HÒA XÃ H I CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN M - THÀNH PHỐ HÀ N I

- Thành phần xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Anh Tuấn

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Son

Ông Trần Xuân Tộ

- Thư ký phiên tòa: à Hoàng Thị Ngọc Bích à Th

T án nh n d n huyện M, Thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện M, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Luân - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 01 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện M, thành phố Hà Nội xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 82/2020/TLST-HS ngày 12 tháng 11 năm 2020 và theo Quyết định đ vụ án ra xét xử sơ thẩm số 96/2020/QĐXXST-HS ngày 22/12/2020 đối với bị cáo:

Nguyễn Phúc T, sinh năm 1994.

Giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh.

Nghề nghiệp: L o động tự do; trình độ học vấn: 07/12.

Nơi đăng hộ khẩu th ờng trú và nơi ở: thôn D, xã H, huyện U, thành phố Hà Nội.

Họ và tên cha: Nguyễn Phúc H, sinh năm 1970.

Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị V, sinh năm 1971.

Tiền án:

+ Ngày 26/01/2016 bị Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh B tuyên phạt 20 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Ngày 10/3/2016 bị Tòa án nhân dân huyện S, tỉnh B tuyên phạt 05 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Tổng hợp phải chấp hành hình phạt chung cả hai bản án là 25 tháng tù. Nguyễn Phúc T đã chấp hành xong 25 tháng tù ngày 29.9.2019 nh ng ch chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm: 200.000 đồng, án phí dân sự: 2.890.000, bồi th ờng dân sự: 57.807.000 đồng đối với bản án số 12A ngày 26.1.2016 Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh B.

+ Ngày 17/5/2018, Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Hà Nam tuyên phạt 24 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 10/01/2020.

Tiền sự: Không.

Bị tạm giữ từ ngày 10/7/2020, chuyển tạm giam từ ngày 19/7/2020 đến nay. Hiện đ ng tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an thành phố Hà Nội. Có mặt.

- g

ào ch a cho bị cáo Nguyễn Phúc T: ng Nguyễn Ngọc ờng – Trợ giúp viên pháp Trung t m trợ giúp pháp nhà n ớc thành phố à Nội. Vắng mặt

- Bị h

+ Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1991. Nơi c trú: th n Đ, xã H, huyện U, TP Hà Nội. Vắng mặt

+ Anh Trần Văn D, sinh năm 1972. Nơi c trú: th n N, xã S, huyện M, thành phố Hà Nội. Vắng mặt

+ Anh Nguyễn Văn , sinh năm 1996.

Nơi c trú: th n B, xã D, huyện T, TP Hà Nội. Vắng mặt.

N I DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đ ợc tóm tắt nh s u:

Ngày 09/7/2020, chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1991 trú tại thôn Đ, xã H, huyện U, thành phố Hà Nội có đơn trình báo đến Công an xã A, huyện M, thành phố Hà Nội về việc bị một nam H niên đội mũ phớt màu đen, áo hoác màu x nh rêu, đi xe máy Wave trắng v ợt ên dùng ch n đạp vào xe, s u đó chặn đầu xe và chiếm đoạt của chị 01 giấy phép đăng ký xe, 01 chứng minh th cùng m ng tên Nguyễn Thị T, 01 đăng ký xe, 01 bảo hiểm xe máy cùng mang tên Nguyễn Hà C, cùng 01 điện thoại Samsung J6 và số tiền 450.000 đồng.

Ngày 10/7/2020, anh Trần Văn D, sinh năm 1972 trú tại thôn Đ, xã S, huyện M, thành phố Hà Nội có đơn trình báo đến Công an xã S về việc: khoảng 11 giờ 17 phút, ngày 10/7/2020, gi đình nh D bị kẻ gian lấy trộm 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Super Dream, biển kiểm soát: 33M4 - 3809, số khung: 525514, số máy: 0525584, đăng ý xe mang tên Trần Văn T trú tại: th n Th ợng, xã S, huyện M, thành phố Hà Nội.

Ngày 10/7/2020, anh Nguyễn Văn C, sinh năm 1996 trú tại thôn B, xã D, huyện T, thành phố Hà Nội có đơn trình báo đến Công an xã L, huyện M, thành phố Hà Nội về việc bị một nam H niên lạ mặt lấy trộm xe máy Honda Dream, biển kiểm soát: 29Y5 – 269.81 do nh ng để ở tr ớc cửa nhà anh Nguyễn Viết Diến, sinh năm 1978 trú tại: thôn 10, xã L, huyện M, thành phố Hà Nội.

Quá trình điều tr xác định: Nguyễn Phúc T, sinh năm 1994 trú tại thôn D, xã H, huyện U, thành phố Hà Nội à đối t ợng đã thực hiện hành vi trong các vụ án nêu trên.

Tại ơ qu n điều tra, Nguyễn Phúc T đã h i nhận từng hành vi cụ thể:

- Vụ thứ nhất: Khoảng 13 giờ ngày 09/7/2020, T điều khiển xe máy HONDA WAVE màu trắng, biển kiểm soát 29Y3 - 31977 đi từ nhà đến địa phận xã A, huyện M, thành phố Hà Nội. Khi đến đoạn đ ờng vắng, nhìn thấy chị Nguyễn Thị T điều khiển xe máy Dream cùng chiều đi vào, T nảy sinh định chiếm đoạt tài sản nên đã đi ề sát xe và hỏi chị H: “đi đấu đấy?” chị H trả lời: “đi vào trong B” rồi v ợt xe lên tr ớc, T phóng xe đuổi theo. Khi h i xe đi đã gần nhau, T áp sát, dùng chân phải đạp vào phần giữ yên xe và đầu xe khiến chị H loạng choạng , mất thăng bằng. T choàng ng ời sang giật mạnh chiếc túi chị H đ ng đeo tr ớc ngực nh ng h ng đ ợc nên vẫn tiếp tục áp sát buộc chị H phải dừng lại. Chị H vẫn giữ chặt túi và nói: “trong túi chỉ c n 500.000 đồng th i” nh ng T không dừng mà giật mạnh đến lần thứ 2 khiếnH phải buông tay. Chị H chạy lại giữ phần đu i xe của T, nh ng T xuống xe dùng tay gạt chị H ra rồi lên xe bỏ chạy. Khi đến nghĩ tr ng xã L, T rẽ vào kiểm tra tài sản đã chiếm đoạt đ ợc thấy có 01 tờ mệnh giá 200.000 đồng, 01 tờ mệnh giá 100.000 đồng và 03 tờ mệnh giá 50.000 đồng ( tổng cộng 450.000đ); ngoài r trong túi có một điện thoại S msung màu đen, màn hình có vết rạn, T bấm mở điện thoại thì thấy có mã khóa cùng nhiều giấy tờ cá nhân: giấy đăng xe, chứng minh nhân dân, giấy phép lái xe, bảo hiểm xe cùng một chùm chìa khóa. T cất tiền vào túi quần rồi vứt điện thoại, túi xách cùng bảo hiểm xe, chùm chìa khóa tại nghĩ tr ng, s u đó, tiếp tục đi xe máy ên địa phận xã S, trên đ ờng đi đã vứt bỏ đăng , giấy phép lái xe và giấy chứng minh nhân dân ở dọc đ ờng. Số tiền 450.000 đồng T đã ăn tiêu hết.

Vụ thứ 2: Khoảng 10 giờ ngày 10/7/2020, Nguyễn Phúc T điều khiển xe máy Honda Wave màu trắng, BKS: 29Y3 - 31977, đi đến khu vực thôn Đ, xã S, huyện M, TP Hà Nội hi đi qu nhà ng Trần Văn D, sinh năm 1972 thấy cổng mở, trong sân có dựng 01 xe máy nhãn hiệu Super Dre m, màu sơn: n u có biển kiểm soát: 33M4 - 3809, chìa khóa vẫn cắm ở ổ khóa xe nên T nảy sinh định trộm cắp tài sản nên đã dựng chiếc xe máy đ ng đi tại ngõ một nhà d n cách đó hoảng 20m, rồi đi bộ về phía trong. Quan sát thấy h ng có ng ời, T đi ại gần rồi dắt chiếc xe máy r đ ờng, s u đó nổ máy đi theo đ ờng 419 về h ớng xã L. Khi đến khu vực trạm bơm, T mang chiếc xe máy vừa trộm cắp đ ợc cất giấu ở một ngõ đi rồi thuê một ng ời (không rõ tên tuổi địa chỉ) chở xe máy quay lại S để lấy chiếc xe máy biển kiểm soát: 29Y3 - 31977 mang về. Khi đến gần cầu Ê, T gửi lại xe tại quán n ớc của chị Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1986 trú tại: Tổ dân phố Ê, thị trấn Đ, huyện M, TP Hà Nội rồi đi bộ đến khu vực trạm bơm để lấy chiếc xe máy trộm cắp đ ợc củ gi đình ng D.

- Vụ thứ 3 (Cùng trong ngày 10/7/2020):

Quá trình đi từ quán nhà chị Đào đến trạm bơm xã L để lấy chiếc xe máy trộm cắp đ ợc củ gi đình ng D. Trên đ ờng đi, thấy tr ớc cửa nhà anh Nguyễn Văn Diến, sinh năm 1978 trú tại: thôn 10, xã L, huyện M, thành phố Hà Nội thấy có một chiếc xe máy ond Dre m, màu sơn n u, KS: 29Y5 – 26981 của anh Nguyễn Văn C, sinh năm 1996, trú tại thôn B, xã D, huyện T, thành phố Hà Nội đ ng dựng tr ớc cửa, chìa khóa xe vẫn cắm vào ổ khóa, không có ai trông coi. T đi ại gần, qu y đầu xe h ớng r đ ờng, nổ máy và phóng đi thẳng, đến cửa hàng sửa chữa xe do anh Lê Văn Qu ng, sinh năm 1982 trú tại thôn X, xã M, huyện U, TP Hà Nội T mang xe vào nhờ anh Quang kiểm tr căng ại xích và hẹn 14 giờ cùng ngày quay lại. S u đó, T đi nhờ xe của một ng ời không quen biết đến ngã năm Ê, thị trấn Đ, rồi xuống xe, đi bộ đến khu vực trạm bơm xã Lđể lấy chiếc xe đã trộm tr ớc đó củ gi đình ng D cùng lúc bị lực ợng Công an xã Lphát hiện, bắt giữ.

- Ngày 10/7/2020 Công an xã L thu giữ tại hu đất trống gần nhà anh Nguyễn Đức O ở thôn 9 xã L, huyện M: 01 xe máy nhãn hiệu ond Dre m, màu sơn: n u; biển kiểm soát: 33M4 – 3809; số khung: 525514, số máy: 0525584.

Trong ngày 10/7/2020 ơ qu n cảnh sát điều tra Công an huyện M đã thu giữ:

- Tại nghĩ tr ng xã Lthu giữ: 01 túi giả da (dạng ví) màu đen, có viền trắng ở hai mặt túi, trên một mặt túi có chữ YSL xếp ên nh u, ích th ớc túi (20x14)cm; 01 chùm chìa khóa (có 02 chìa khóa); 01 ốp điện thoại bằng nhựa dẻo; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm xe máy mang tên Nguyễn Hà Cầu.

- Tại cử hàng bán n ớc do Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1986 trú tại Tổ dân phố Ê, thị trấn Đ thu giữ : 01 xe máy ond W ve, màu sơn: đen trắng, BKS: 29Y3 – 31977, bên trong cốp xe có 01 điện thoại di động Samsung J2 Prime, vỏ ngoài màu bạc, số kiểu máy SM - G532G/DS.

- Tại cửa hàng sửa chữa xe máy của Lê Văn Q - sinh năm 1982 th n B, xã M, huyện U, TP Hà Nội thu giữ: 01 xe máy nhãn hiệu ond Dre m, màu sơn: n u, biển kiểm soát: 29Y5 – 26981, số khung: HA08E1674207, số máy: 0802AY374147; 01 mũ ỡi tr i màu đen; 01 hẩu trang kẻ caro có chữ Eliza; 01 quần dài màu đen có 02 túi h i bên, h i bên đầu gối có xọc vải màu trắng chữ X; 01 áo dài tay màu xanh rêu, cúc nhựa, có 02 túi ngực hai bên, bên trong áo cóp dòng chữ “cục qu n nhu”.

Ngày 11/7/2020, ơ qu n cảnh sát điều tra Công an huyện M đã có yêu cầu định giá tài sản số 28 đến Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện M yêu cầu định giá các tài sản đã thu giữ trong vụ án, bao gồm: 01 chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA DREAM, màu sơn n u, biển kiểm soát: 29Y5 - 26981; 01 xe máy nhãn hiệu SUPERDREAM, màu sơn n u, biển kiểm soát: 33M4 - 3809; 01 điện thoại SAMSUNG J6 màu đen đã qu sử dụng và 01 túi giả d đã thu giữ.

Tại Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 32 ngày 13/7/2020, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện M kết luận:

“01 chiếc đ ện tho SAMSU G J6 màu đen, g á trị t ơng đ ơng cùng lo i t i th đ ểm là 1.750.000 đồng, 01 túi giả da giá trị t i th đ ểm 50.000 đồng, 01 chiếc xe máy nhãn hiệu SUPERDREAM, BKS: 33M4-3809 giá trị t i th đ ểm là 3.500.000 đồng và 01 chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA Dream, BKS: 29Y5- 26981 giá trị t ơng đ ơng t i th đ ểm là 14.000.000 đồng. Tổng giá trị các tài sản nêu trên là 19.300.000 đồng”.

Đối với các tài sản, vật dụng khác thu giữ gồm: 01 điện thoại Samsung J2 Prime, 01 mũ ỡi trai màu đen, 01 hẩu trang, 01 quần dài màu đen , 01 áo dài t y màu x nh rêu là tài sản riêng của T, đ ợc chuyển theo hồ sơ vụ án.

Tại Cáo trạng số 79/CT-VKS-MĐ ngày 10/11/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện M, thành phố Hà Nội truy tố Nguyễn Phúc T về tội: “C ớp tài sản” theo điểm d, điểm h khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự và và tội “Trộm cắp tài sản” điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện M, thành phố Hà Nội giữ nguyên quan điểm truy tố về hành vi, tội danh và điều luật. Đề nghị Hội đồng xét xử:

+ p dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s hoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Phúc T từ 2 đến 3 năm tù về tội Trộm cắp tài sản.

p dụng điểm d, h khoản 2 Điều 168; điểm s hoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Phúc T từ 8 đến 9 năm tù về tội ớp tài sản.

Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt của hai tội buộc Nguyễn Phúc T phải chấp hành là 10 đến 12 năm tù.

+ Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

+ Về dân sự: Buộc bị cáo phải bồi th ờng cho chị Nguyễn Thị T số tiền là 2.200.000 đồng là giá trị chiếc điện thoại và số tiền 450.000đ trong túi sách bị T chiếm đoạt.

+ Về vật chứng: Trả lại 01 điện thoại Samsung J2 Prime cho T. Tịch thu tiêu hủy 01 mũ ỡi tr i màu đen, 01 hẩu trang, 01 quần dài màu đen , 01 áo dài tay màu xanh rêu.

+Về án phí: uộc bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

- Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội củ mình nh nội dung bản cáo trạng và xin giảm nhẹ hình phạt.

- Ng ời bào chữa cho bị cáo có bài bào chữa nhất trí tội danh và hành vi phạm tội đề nghị giảm hình phạt cho bị cáo thấp hơn mức đại diện Viện Kiểm sát đã đề nghị.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đ ợc tranh tụng tại phiên tòa, xem xét đầy đủ toàn diện chứng xứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, Hội đồng xét xử nhận định nh s u:

Về tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng củ ơ qu n điều tr , Điều tra viên Công an huyện M; Viện iểm sát nh n d n, Kiểm sát viên huyện M trong quá trình điều tra, truy tố và thành viên Hội đồng xét xử, Th

T án ghi biên bản phiên t đã thực hiện đúng theo quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật tố tụng Hình sự. Về các chứng cứ, tài liệu thu thập đ ợc trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những ng ời tham gia tố tụng khác h ng có iến hoặc hiếu nại về hành vi, quyết định củ ơ qu n tiến hành tố tụng, ng ời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng củ cơ qu n tiến hành tố tụng và ng ời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung vụ án:

Quá trình điều tr cũng nh tại phiên t , bị cáo đã thành hẩn h i nhận hành vi phạm tội nh nội dung Cáo trạng đã truy tố. Xét lời khai của bị cáo phù hợp với ời khai tại cơ qu n điều tra, ời h i ng ời bị hại, ết uận định giá và các tài iệu hác có trong hồ sợ vụ án, có đủ cơ sở ết uận: Liên tiếp trong thời gian 02 ngày 09/7/2020 và ngày 10/7/2020 tại các địa bàn xã A, xã S và xã L, huyện M, thành phố Hà Nội. Nguyễn Phúc T đã thực hiện các hành vi phạm tội nh s u:

- Dùng vũ ực khống chế khiến chị Nguyễn Thị T không thể kháng cự và chiếm đoạt của chị 01 túi xách bên trong có 01 giấy phép đăng xe, 01 chứng minh th cùng mang tên Nguyễn Thị T, 01 đăng xe, 01 bảo hiểm xe máy cùng mang tên Nguyễn Hà C, cùng 01 điện thoại Samsung J6 và số tiền 450.000 đồng tổng giá trị tài sản đ ợc xác định là 2.200.000 đồng.

- Lợi dụng sơ hở chiếm đoạt 02 chiếc xe máy: Xe máy Dream BKS: 33M4-3809 của anh Trần Văn D thôn Đ, xã S, huyện M, TP Hà Nội trị giá 3.500.000 đồng và chiếc xe máy Honda Dream BKS: 29Y5 - 26981 của anh Nguyễn Văn trú tại thôn B, xã D, huyện T, TP Hà Nội trị giá 14.000.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản mà Nguyễn Phúc T trộm cắp à 17.500.000đ (M ời bảy triệu năm trăm nghìn đồng).

Bị cáo đã có hành vi dùng ch n đạp vào xe máy của chị Nguyễn Thị T (trong khi chị H đ ng điều khiển ph ơng tiện trên đ ờng) và dùng xe máy, chèn ép thể hiện tính nguy hiểm cao, có thể gây hậu quả nguy hiểm nên cần áp dụng tình tiết định hung tăng nặng là“ dùng ph ơng t ện và thủ đo n nguy hiểm” theo điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự. Đồng thời, Ngày 17/5/2018 bị Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Hà Nam tuyên phạt 24 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 10/01/2020 ch đ ợc xó án tích mà đến ngày 09/7/2020 lại tiếp tục phạm tội nên bị áp dụng tình tiết định hung tăng nặng là “tá ph m nguy hiểm điểm h khoản 2 Điều 168 và điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.

ị cáo có đầy đủ năng ực trách nhiệm hình sự, nhận thức đ ợc hành vi củ mình à vi phạm pháp uật nh ng vẫn cố thực hiện, nên đã phạm vào tội “” ớp tài sản” và tội “Trộm cắp tài sản”, tội danh và hình phạt đ ợc quy định tại điểm h, g khoản 2 Điều 168 và điểm g hoản 2 Điều 173 ộ uật ình sự. Cáo trạng truy tố củ Viện iểm sát nh n d n huyện Mđối với bị cáo Nguyễn Phúc T à có căn cứ, đúng pháp uật.

Về tính chất của vụ án và mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản, gây mất trật tự trị an xã hội, thể hiện sự coi th ờng pháp luật. Bị cáo có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị kết án về tội trộm cắp tài sản. Nh ng bị cáo h ng coi đó à bài học sâu sắc mà tiếp tục phạm tội. Nên cần phải có mức hình phạt nghiêm minh phù hợp với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.

Về các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

- Về tình tiết tăng nặng:

Đối với hành vi trộm cắp: Trong ngày 10/7/2020 đã thực hiện liên tiếp hai hành vi trộm cắp tài sản cụ là 01 xe máy Dream BKS: 33M4- 3809 của anh Trần Văn D tại thôn Đ, xã S, huyện M, TP Hà Nội và 01 chiếc xe máy Honda Dream BKS: 29Y5

- 26981 của anh Nguyễn Văn trú tại thôn B, xã D, huyện T, TP Hà Nội. Do vậy hành vi của bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng theo điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự à “Phạm tội 02 lần trở ên”.

- Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tr và tại phiên t thành hẩn h i báo, ăn năn hối cải nên bị cáo đ ợc h ởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Quyết định hình phạt :

ăn cứ tính chất của vụ án và mức độ hành vi phạm tội; tình tiết giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần xử phạt tù bị cáo một thời gian dài mới có đủ tác dụng răn đe, ph ng ngừa.

Xét thấy bị cáo à o động tự do, c ng việc và thu nhập h ng ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về trách nhiệm d n sự: . Chị H yêu cầu đ ợc bồi th ờng 2.200.000 đồng là giá trị chiếc điện thoại và số tiền 450.000đ trong túi xách bị T chiếm đoạt nên buộc bị cáo phải bồi th ờng cho chị Nguyễn Thị T số tiền là 2.200.000 đồng.

ị hại là anh Trần Văn D và anh Nguyễn Văn đã nhận ại tài sản và h ng có đề nghị gì nên ội đồng xét xử h ng xem xét, giải quyết.

Các tài sản đã đ ợc giao trả lại cho ng ời bị hại:

- Chị Nguyễn Thị T nhận lại: 01 túi xách giả da, 01 ốp điện thoại, 01 giấy chứng nhận bảo hiểm xe máy và 01 chùm chìa khóa

- Chiếc xe máy mang biển kiểm soát: 29Y5 – 26981 qu xác minh đăng

mang tên ông Nguyễn Văn hiến, sinh năm 1972 trú thôn Ba Làng, xã D, huyện T, TP Hà Nội. Ngày 10/7/2020 ông Chiến giao xe cho con trai anh là anh Nguyễn Văn C sử dụng đi gi o hàng tại xã L, huyện M, TP Hà Nội.

- Chiếc xe máy mang biển kiểm soát: 33M4 - 3809 đăng m ng tên anh Trần Văn H, sinh năm 1979 trú tại thôn Đ, xã S, huyện M, TP Hà Nội quá trình sủ dụng H đã bán ại cho anh Trần Văn D sinh năm 1972 cùng địa chỉ.

Qua xác minh cả 02 xe đều không có trong dữ liệu xe tang vật; Ngày 16/8/2020 ơ qu n điều tr đã gi o trả lại cho những ng ời bị hại. Anh Công và anh D đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu đề nghị gì thêm.

- Chiếc xe máy ond W ve, màu sơn: đen trắng, BKS: 39Y3 -31977, thu giữ của T. Qu xác minh xác định chủ sở hữu của chiếc xe máy là ông Nguyễn Phúc H, sinh năm 1970 trú tại: thôn D, xã H, huyện U là bố đẻ của T. Do T tự ý lấy xe đi để sử dụng vào hành vi phạm tội ông Hiệp không biết nên cơ qu n điều tra đã gi o trả lại tài sản cho chủ sở hữu à có căn cứ.

- Đối với chị Nguyễn Thị Đ à ng ời cho T gửi lại chiếc xe máy biển kiểm soát: 29Y3-31977; anh Lê Văn Q à ng ời sửa xe và cho T gửi lại chiếc xe máy biển kiểm soát: 29Y5 – 26981, do cả h i đều không biết nguồn gốc tài sản nên ơ qu n điều tra h ng đề cập xử lý.

Vì vậy, Tòa không xét

Về vật chứng:

Trả lại 01 điện thoại Samsung J2 Prime cho bị cáo Nguyễn Phúc T do không liên qu n đến việc phạm tội.

Tịch thu tiêu hủy 01 mũ ỡi tr i màu đen, 01 hẩu trang, 01 quần dài màu đen , 01 áo dài tay màu xanh rêu của bị cáo do không còn giá trị sử dụng.

Về án phí và quyền kháng cáo: ị cáo phải chịu án phí và có quyền kháng cáo theo quy định củ pháp uật. Ng ời bị hại có quyền háng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1.Tuyên bố bị cáo Nguyễn Phúc T phạm tội “” ớp tài sản” và tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng điểm d, h khoản 2 Điều 168; điểm s hoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Phúc T 08 ( tám ) năm tù về tội ớp tài sản.

Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 ộ uật ình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Phúc T 02 ( h i ) năm 06 ( sáu) tháng tù về tội Trộm cắp tài sản.

Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt của hai tội buộc bị cáo Nguyễn Phúc T phải chấp hành hình phạt chung là 10 (m ời) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ 10/7/2020.

2. Về trách nhiệm dân sự: ăn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự buộc bị cáo Nguyễn Phúc T phải bồi th ờng cho chị Nguyễn Thị T số tiền là 2.200.000 đồng.

2. Về vật chứng: ăn cứ Điều 47 ộ uật ình sự; Điều 106 ộ uật Tố tụng ình sự:

- Trả lại 01 điện thoại Samsung J2 Prime cho bị cáo Nguyễn Phúc T.

- Tịch thu tiêu hủy 01 mũ ỡi tr i màu đen, 01 hẩu trang, 01 quần dài màu đen , 01 áo dài tay màu xanh rêu.

Vật chứng có đặc điểm và số ợng nh iên bản gi o nhận vật chứng, tài sản ngày 11/11/2020 giữ

ng n huyện M và hi cục Thi hành án d n sự huyện M.

3. Về án phí: ăn cứ Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, khoản 01 Điều 21, điểm hoản 01 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy b n th ờng vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Nguyễn Phúc T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

4. Về quyền háng cáo: ăn cứ các Điều 331, 333 ộ uật Tố tụng hình sự, bị cáo có quyền háng cáo trong thời hạn 15 ngày ể từ ngày tuyên án. Ng ời bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đ ợc bản án hoặc bản án đ ợc niêm yết. Nơi nh n:

Cỡ chữ