- Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo Nguyễn Hữu Th 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam, ngày 16/11/2020. về tội trộ…"
- Tòa quyết gì? [1] Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hữu Th phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 52 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG PẮC TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 03/2021/HS-ST Ngày: 01/3/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG PẮC, TỈNH ĐẮK LẮK
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Võ Thanh Hà.
Các hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nông Thanh Tùy
2. Bà Trịnh Thị Oanh
- Thư ký phiên tòa: Bà Nông Thị Lường - Thư ký tòa án, Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Bạch Mai Anh Thi - Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 3 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 03/2021/TLST-HS ngày 01 tháng 02 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2021/ QĐXXST-HS ngày 17 tháng 02 năm 2021 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Hữu Th , sinh năm: 1993; Nơi sinh: Tỉnh Đắk Lắk.
Nơi cư trú: Thôn E, xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 7/12. Con ông Nguyễn Hữu L, sinh năm 1964 và con bà Nguyễn Thị G, sinh năm 1969. Gia đình bị cáo có 03 chị em ruột, bị cáo là con thứ 03; Bị cáo có vợ là Lương Thị Ngọc Q, sinh năm 1995 và có 02 con, con lớn sinh năm 2014, con nhỏ sinh năm 2017.
Tiền án: Có 01 tiền án. Ngày 16/9/2014, Nguyễn Hữu Th bị Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa xử phạt 08 tháng tù giam về tội: Trộm cắp tài sản, quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999, tại bản án số 232/2014/HSST ngày 16/9/2014. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù, bị cáo đóng án phí sau ngày phạm tội nên chưa được xóa án tích.
Tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/11/2020 tại Nhà tạm giữ Công an huyện Krông Pắc đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo: Ông Hoàng Văn C – Trợ giúp viên pháp lý,
thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Đắk Lắk.
Địa chỉ: Số 39 đường Lý Thường Kiệt, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (Có mặt).
Người bị hại:
Bà Nguyễn Thị Nh, sinh năm: 1970.
Địa chỉ: Thôn 12, xã K, huyện K, tỉnh Đắk Lắk (Có mặt).
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1971.
Địa chỉ: Tổ dân phố 1, TT. E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk.
- Bà Nguyễn Thị M, sinh năm: 1984 (Có mặt).
- Ông Nguyễn Anh Th, sinh năm: 1976 (Có mặt).
- Anh Nguyễn Thế A, sinh năm: 2005 (Vắng mặt).
Cùng trú tại: Tổ dân phố 8, TT. E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk.
- Ông Ma văn C, sinh năm: 1980 (Vắng mặt).
Trú tại: Thôn E, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.
Người làm chứng: Ông Trương Mạnh T, sinh năm 1990.
Địa chỉ: Thôn E, xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ ngày 15/11/2020, Nguyễn Hữu Th gặp Nguyễn Thế A, sinh ngày 14/10/2005, cư trú tại tổ dân phố 8, thị trấn E, huyện E và một người tên H (chưa xác định được nhân thân, lai lịch), tại đám cưới ở thôn E, xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, Th rủ Thế A và H đi trộm cắp tài sản thì cả hai đồng ý. Th điều khiển xe mô tô biển số 47M4 - 0849 chở Thế A và H đến khu vực nhà bà Nguyễn Thị Nh ở thôn 12, xã K, huyện K tìm bắt trộm gà. Cả ba trèo qua hàng rào đi vào phía sau nhà bà Nh nhưng không thấy gà mà thấy có chuồng dê nên Th nói “Không có gà thì bắt dê đại đi”. Thế A đứng cảnh giới, Th, H vào chuồng bắt 01 con dê, trọng lượng khoảng 40kg, rồi đưa dê qua hàng rào thì bị bà N phát hiện. Cả ba để con dê lại và bỏ chạy thì Th bị rơi một điện thoại di động nhãn hiệu Vivo, màu xanh. Một lúc sau, Th và Thế A quay lại nhà bà Nh xin lại điện thoại thì bị quần chúng nhân dân giữ lại và bàn giao cho cơ quan Công an.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 36/KL-HĐĐG ngày 17/11/2020 của Hội đồng định giá tài sản huyện K kết luận: 01 con dê, giống dê cái, màu lông trắng có trọng lượng 40kg, có giá trị tại thời điểm bị xâm hại ngày 15/11/2020 là 5.000.000 đồng.
Tại bản cáo trạng số 04/CT-VKS-HS ngày 29/01/2021 của Viện Kiểm Sát nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk đã truy tố bị cáo Nguyễn Hữu Th về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Hữu Th đã thừa nhận có hành vi trộm cắp tài sản với các tình tiết như bản cáo trạng đã nêu, cụ thể là: Khoảng 17 giờ ngày 15/11/2020, tại nhà nhà bà Nguyễn Thị Nh ở thôn 12, xã K, huyện K, tỉnh Đắk Lắk, Nguyễn Hữu Th, Nguyễn Thế A và H (Chưa rõ nhân thân, lai lịch) đã bắt 01 con dê, giống dê cái, màu lông trắng có trọng lượng 40kg, có giá trị tại thời điểm bị xâm hại ngày 15/11/2020 là 5.000.000 đồng.
Người bị hại bà Nguyễn Thị Nh trình bày: Vào tối 15/11/2020, gia đình bà bị bị cáo Th và 02 thanh niên trộm 01 con dê, giống dê cái, màu lông trắng có trọng lượng 40kg. Bà đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm. Bà Nh đề nghị HĐXX xử lý theo quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị M và ông Nguyễn Anh Th cùng trình bày: Nguyễn Thế A, sinh ngày 14/10/2005 là con của ông Th và bà H. Việc Nguyễn Thế A tham gia trộm cắp tài sản cùng bị cáo Nguyễn Hữu Th, ông Th và bà H không biết. Hiện nay Nguyễn Thế A đã bỏ đi khỏi địa phương, ông Th và bà H không biết Nguyễn Thế A đang ở đâu.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Pắc tham gia phiên tòa đã phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu Th phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng: Khoản 1 Điều 173, điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h, o khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, đề nghị xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hữu Th từ 12 tháng đến 18 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 16/11/2020.
Đối với Nguyễn Thế A, sinh ngày 14/10/2005 (đăng ký khai sinh quá hạn), tính đến thời điểm phạm tội Nguyễn Thế A 15 tuổi 01 tháng 01 ngày. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, Nguyễn Thế A đã bỏ trốn khỏi địa phương, chưa xác định được nơi ở và chưa giám định được độ tuổi nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, xử lý theo quy định của pháp luật.
Đối với đối tượng tên H, quá trình điều tra chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, xử lý theo quy định của pháp luật.
Xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 48, điểm c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyê ̣n Krông P ắc đa trao trã
̉ 01 con dê, giống dê cái, màu lông trắng có trọng lượng 40kg cho bà Nguyễn Thị Nh là chủ sở hữu.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Krông Pắc đã tra cứu xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại xe Sirius, màu sơn đen, số máy 5C63-464198, số khung RLCS5C630BY464142 là do Nguyễn Hữu Th mua lại từ tiệm cầm đồ, nhưng chưa xác định được chủ sở hữu. Do đó, tiếp tục tạm giữ xe mô tô, khi nào xác định được chủ sở hữu sẽ tiến hành xử lý theo quy định của pháp luật.
Đối với biển số xe mô tô 47M4 - 0849 mà bị can dùng để gắn lên xe mô tô dùng đi trộm cắp tài sản, quá trình điều tra xác định là biển số đăng ký của xe mô tô nhãn hiệu Longcinplus, màu sơn xanh đen, số máy: VHU1P52FMHA300426, số khung: RMUWCH3MU61300426, của ông Ma Văn Ch, sinh năm 1980, cư trú tại thôn Ea B, xã D, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Tuy nhiên, vào năm 2012, ông Ch đã mang biển số trên bán phế liệu. Ngoài ra, ông Ch không nhận lại biển số trên và không biết việc trộm cắp tài sản của bị cáo nên không đề cập xử lý đối với Ma Văn Ch và đề nghị tiêu hủy biển số xe mô tô 47M4 – 0849.
Đối với chiếc điện thoại di động hiệu VIVO, màu xanh, màn hình cảm ứng, số IMEI 1: 862449043956313; số IMEI 2: 862449043956305; 01 sim số: 0325682534; 01 sim số: 0834591447 là của bị cáo Nguyễn Hữu Th, tuy nhiên bị cáo không sử dụng vào việc phạm tội nên chấp nhận việc Cơ quan điều tra đã trả lại cho bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự; Điều 584,585, 586 và Điều 589 của Bộ luật dân sự. Người bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên không đề nghị HĐXX đề cập giải quyết.
Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không tranh luận gì với quan điểm của Viện kiểm sát.
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Hữu Th cho rằng: Về tội danh không có ý kiến tranh luận gì, tuy về hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo Nguyễn Hữu Th từ 12 đến 18 tháng tù là có phần nghiêm khắc đối với bị cáo. Bởi lẽ: Bị cáo nhất thời phạm tội, tài sản bị cáo chiếm đoạt không lớn, mặc dù chưa chiếm đoạt được tài sản nhưng bị cáo đã quay lại xin lỗi và thừa nhận hành vi của mình, bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn thuộc hộ cận nghèo và căn cứ Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và miễn tiền án phí cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk tranh luận với ý kiến của Luật sư: Bị cáo Nguyễn Hữu Th, do ý thức coi thường pháp luật, muốn có mồi nhậu nên đã rủ H và Thế A thực hiện hành vi trộm cắp rất liều lĩnh và bất chấp. Bị cáo Th là người khởi xướng và thực hiện hành vi tích cực, bị cáo chỉ quay lại nhà bà Nh để xin lỗi và thừa nhận hành vi của mình là do bị cáo để rơi điện thoại nên Đại diện Viện kiểm sát không chấp nhận. Do đó mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk đề nghị là phù hợp với quy định của pháp luật nên đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Xét về thủ tục tố tụng: Các Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Krông Pắc, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Pắc và hành vi tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, truy tố, điều tra thu thập chứng cứ vụ án đã thực hiện đúng theo thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Các quyết định tố tụng, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở pháp lý để kết luận: Khoảng 17 giờ ngày 15/11/2020, tại nhà nhà bà Nguyễn Thị Nh ở thôn 12, xã K, huyện K, tỉnh Đắk Lắk, Nguyễn Hữu Th, Nguyễn Thế A và đối tượng tên H (Chưa rõ nhân thân, lai lịch), đã bắt 01 con dê, giống dê cái, màu lông trắng có trọng lượng 40kg, có giá trị tại thời điểm bị xâm hại ngày 15/11/2020 là 5.000.000 đồng.
Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội Trộm cắp tài sản. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173Bộ luật hình sự.
Điều 173 Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
Xét hành vi của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm quyền sở hữu hợp pháp của người bị hại, gây hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân, làm mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo là người có nhân thân xấu đã từng bị Tòa án kết án về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng chưa được xóa án tích, bị cáo nhận thức được hành vi xâm phạm tài sản của người khác là trái pháp luật, nhưng chỉ vì muốn có đồ ăn để nhậu nên bị cáo đã rủ người khác cùng lao vào con đường phạm tội. Vì vậy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để có điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội sau này.
Xét về nhân thân bị cáo: Bị cáo có nhân thân xấu: Ngày 16/9/2014, Nguyễn Hữu Th bị Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa xử phạt 08 tháng tù giam về tội: Trộm cắp tài sản, quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999, chưa được xóa án tích. Đồng thời bị cáo là người khởi xướng, rủ rê và phân công cho Nguyễn Thế A là người dưới 18 tuổi cùng thực hiện hành vi trộm cắp nên bị cáo bị áp dụng các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, o khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, bị cáo phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn; thành khẩn khai báo, bị cáo thuộc diện hộ nghèo là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cần xem xét trong quá trình lượng hình thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.
Đối với Nguyễn Thế A sinh ngày 14/10/2005 (đăng ký khai sinh quá hạn), tính đến thời điểm phạm tội Nguyễn Thế A 15 tuổi 01 tháng 01 ngày. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, Thế A đã bỏ trốn khỏi địa phương, chưa xác định được nơi ở và chưa giám định được độ tuổi nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, xử lý theo quy định của pháp luật là phù hợp.
Đối với đối tượng tên H, quá trình điều tra chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, xử lý theo quy định của pháp luật là phù hợp.
Các biện pháp tư pháp:
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Cô ng an huyê ̣n Krông P ắc đa trao trã
̉ 01 con dê, giống dê cái, màu lông trắng có trọng lượng 40kg cho bà Hoàng Thị Nh là chủ sở hữu là phù hợp.
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại xe Sirius, màu sơn đen, số máy 5C63-464198, số khung RLCS5C630BY464142, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Krông Pắc đã tra cứu là do Nguyễn Hữu Th mua lại từ tiệm cầm đồ, nhưng chưa xác định được chủ sở hữu. Do đó, tiếp tục tạm giữ xe mô tô, khi nào xác định được chủ sở hữu sẽ tiến hành xử lý theo quy định của pháp luật là phù hợp.
Đối với biển số xe mô tô 47M4 - 0849 mà bị can dùng để gắn lên xe mô tô dùng đi trộm cắp tài sản, quá trình điều tra xác định là biển số đăng ký của xe mô tô nhãn hiệu Longcinplus, màu sơn xanh đen, số máy: VHU1P52FMHA300426, số khung: RMUWCH3MU61300426, của ông Ma Văn Ch, sinh năm 1980, cư trú tại thôn E, xã D, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Tuy nhiên, vào năm 2012, ông Ch đã mang biển số trên bán phế liệu. Ngoài ra, ông Ch không nhận lại biển số trên và không biết việc trộm cắp tài sản của bị can nên không đề cập xử lý đối với Ma Văn Ch và đề nghị tiêu hủy biển số xe mô tô 47M4 – 0849 là có căn cứ.
Đối với chiếc điện thoại di động hiệu VIVO, màu xanh, màn hình cảm ứng, số IMEI 1: 862449043956313; số IMEI 2: 862449043956305; 01 sim số: 0325682534; 01 sim số: 0834591447 là của bị cáo Nguyễn Hữu Th, tuy nhiên bị cáo không sử dụng vào việc phạm tội nên đề nghị trả lại cho bị cáo là phù hợp.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại bà Nguyễn Thị Nh đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo Nguyễn Hữu Th bồi thường nên không đề cập giải quyết là có căn cứ.
Xét quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Pắc đề nghị về tội danh, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, mức hình phạt và xử lý vật chứng của vụ án là có căn cứ nên chấp nhận toàn bộ quan điểm của đại diện Viện Kiểm Sát.
Đối với quan điểm của người bào chữa: Xét thấy bị cáo là người khởi xướng việc việc trộm cắp tài sản, bị cáo xúi giục người khác phạm tội và trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội nên Hội đồng xét xử không chấp nhận quan điểm của người bào chữa cho bị cáo.
Về án phí: Căn cứ Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự, điểm đ khoản 1, Điều 12; Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016, buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 260, Điều 326 Bộ luật tố tụng hình sự.
[1] Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hữu Th phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
[2] Về điều luật và mức hình phạt:
- Áp dụng: Khoản 1, Điều 173; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h, o khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự:
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu Th 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam, ngày 16/11/2020.
Đối với Nguyễn Thế A sinh ngày 14/10/2005 (đăng ký khai sinh quá hạn), tính đến thời điểm phạm tội Nguyễn Thế A 15 tuổi 01 tháng 01 ngày. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, Thế A đã bỏ trốn khỏi địa phương, chưa xác định được nơi ở và chưa giám định được độ tuổi nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, xử lý theo quy định của pháp luật.
Đối với đối tượng tên H, quá trình điều tra chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, xử lý theo quy định của pháp luật.
[3] Các biện pháp tư pháp:
Về xử lý vật chứng vụ án: Áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự; điểm 2 khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyê ̣n Krông P ắc đa trao trã
̉ 01 con dê, giống dê cái, lông màu trắng, trọng lượng 40kg cho bà Nguyễn Thị Nh là chủ sở hữu.
Chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Krông Pắc, tiếp tục tạm giữ xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại xe Sirius, màu sơn đen, số máy 5C63-464198, số khung RLCS5C630BY464142 khi nào xác định được chủ sở hữu sẽ tiến hành xử lý theo quy định của pháp luật.
Tịch thu tiêu hủy 01 biển số xe mô tô 47M4 - 0849 mà bị cáo dùng để gắn lên xe mô tô dùng đi trộm cắp tài sản.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại bà Nguyễn Thị Nh đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo Nguyễn Hữu Th bồi thường gì nên không đề cập giải quyết.
Về án phí: Căn cứ Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự;điểm đ khoản 1, Điều 12; Điều 23Nghị quyết 326/2016, ngày 30/12/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo Nguyễn Hữu Th phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan (Có mặt) được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Bản án gốc đã được các thành viên hội đồng xét xử nghị án thống nhất, biểu quyết, thông qua tại phòng nghị án và ký tên dưới đây.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đắk Lắk; - VKSND tỉnh Đăk Lăk; - Sở Tư pháp tỉnh Đắk Lắk; - VKSND huyện Krông Pắc; - T.H.A.H.S CA huyện Krông Pắc; - CQ CSĐT CA huyện Krông Pắc; - Chi cục THADS huyện K; - Bị cáo; Lưu Hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Võ Thanh Hà |