vanban.org

Bản án 03/2021/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Quảng Ngãi Tuyên án 28/10/2021 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 28/10/2021 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn Q. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 53/2021/HS-ST ngày 09/8/2021 của Toà án nhân dân thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi.

Áp dụng: Điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Q 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Q - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS n…"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn Q. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 53/2021/HS-ST ngày 09/8/2021 của Toà án nhân dân thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 54 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH QUẢNG NGÃI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2021/HS-PT
Ngày: 28-10-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Bé

Các Thẩm phán:

Bà Lê Thị Mỹ Giang

Ông Trần Mười

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Việt Trang.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Công Thành - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 10 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 04/2021/TLPT-HS ngày 04 tháng 10 năm 2021 đối với bị cáo Nguyễn Q do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 53/2021/HS-ST ngày 09 tháng 8 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi.

- Bị cáo có kháng cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Q, tên gọi khác: Q, sinh ngày 29 tháng 10 năm 1977 tại tỉnh Quảng Ngãi; nơi cư trú: thôn KL, xã NH, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi; nghề nghiệp: Sửa chữa tàu biển; Trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn X (chết) và bà Lê Thị T; vợ: Phạm Thị Thiếu H; con: Có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2004, con nhỏ nhất sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 16 giờ 00 phút ngày 15/11/2020, Nguyễn Q sau khi uống bia thì điều khiển xe mô tô đến trước nhà anh ruột là ông Nguyễn C tại thôn KL, xã NH, thành phố Q. Tại đây, Nguyễn Q thấy ông C và ông Dương Chí T đang ngồi uống nước trên vỉa hè, Q có lời lẽ chửi mắng ông C về việc mâu thuẫn đất đai trong gia đình. Trong lúc cãi nhau, Q chạy đến vị trí trụ cổng nhà ông C, lượm một viên gạch 06 lỗ ném về phía ông C nhưng ông C chạy đến đỡ được nên không gây thương tích gì, sau đó Ông C và Q ôm vật nhau, thấy vậy ông T đến can ngăn, tách ông C và Q ra. Ông C quay lại vị trí hè ngồi, còn ông T ôm giữ Q lại thì bị Q tát 02 cái vào mặt nên ông T thả Q ra, Q tiếp tục chạy đến vị trí cổng nhà ông C, lượm 01 viên gạch 06 lỗ khác, chạy về phía ông C đang ngồi, ông T có chạy theo ngăn cản nhưng không được. Khi khoảng cách giữa ông Q và ông C còn khoảng một mét thì Q ném viên gạch về phía ông C làm trúng vùng mặt ông C gây thương tích rồi Nguyễn Q bỏ về nhà, ông C được người nhà đưa đến Bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Ngãi cấp cứu điều trị, đến ngày 20/11/2020 xuất viện.

Tại Bản kết luận số 20/TgT ngày 20/01/2021 của Trung tâm Pháp y - Sở Y tế tỉnh Quảng Ngãi, kết luận thương tích của Nguyễn C là 12%. Tổn thương trên phù hợp vật tày có cạnh gây thương tích.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 53/2021/HS-ST ngày 09/8/2021, Toà án nhân dân thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi quyết định:

Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Q phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Q 02 (Hai) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 17/8/2021, bị cáo Nguyễn Q kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Q về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo, nhưng xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 02 năm tù là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo không có tình tiết nào mới. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Q. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 53/2021/HS-ST ngày 09/8/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Xét hành vi của bị cáo Nguyễn Q thấy rằng: Do có mâu thuẫn với ông Nguyễn C liên quan đến việc tranh chấp đất đai trong gia đình từ trước. Khoảng 16 giờ 00 phút ngày 15/11/2020, tại nhà ông Nguyễn C thuộc thôn KL, xã NH, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi. Bị cáo Nguyễn Q đã dùng viên gạch loại 06 lỗ ném 01 cái về phía ông Nguyễn C làm trúng vào vùng trán và mũi của ông Nguyễn C, gây thương tích cho ông Nguyễn C với tỷ lệ thương tật là 12%. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Q về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Sau khi phạm tội, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; mặc dù người bị hại không yêu cầu bồi thường nhưng bị cáo đã nộp số tiền 1.000.000 đồng cho Cơ quan điều tra để bồi thường cho người bị hại; bị cáo có mẹ là bà Lê Thị T được tặng thưởng Huy chương kháng chiến chống Mỹ hạng nhất; gia đình bị cáo khó khăn; bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Trong vụ án này, người bị hại cũng có một phần lỗi và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Nguyễn Q 02 năm tù là có phần nghiêm khắc. Vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự, quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt đối với bị cáo; chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo, sửa bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Q.

Bị cáo Nguyễn Q không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn Q. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 53/2021/HS-ST ngày 09/8/2021 của Toà án nhân dân thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi.

Áp dụng: Điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Q 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.

2. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Q không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ